Bách Hợp

Bạn đánh giá: 2 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

TÊN KHÁC

Phiên, Cường cồ, Ma la, Trùng tương, Trung trùng hoa (Biệt Lục), Trùng mại, Trung đình (Ngô Phổ Bản Thảo), Toán não thủ (Bản Thảo Cương Mục), Cường cừa (Bản Thảo), Đồ kinh đồ hoa, Ma la, Quỷ toán, Cương cừa, Ma la xuân, Khuyển y nhật căn (Hòa Hán Dược Khảo), Bá hợp, Cây tỏi rừng (Dược liệu Việt Nam).

MÔ TẢ:

Cây thảo có thân hình màu trắng ngà, có khi màu hồng, gần hình cầu, vẩy nhẵn và dễ gãy. Thân cứng màu lục bóng có khi điểm hay nhuốm màu đỏ, nhẵn. Lá rải rác ở ngọn, nhẵn, hình mũi mác ngược, nhọn 2 đầu, có 3–9 gân. Cụm hoa ở ngọn có 2–6 hoa to, hình phễu màu trắng. Lá bắc nom như lá. Bao hoa đài 14–16cm, có các mảnh ngoài nhuốm đỏ hay màu lục, thót dài thành móng, các mảnh trong đốm đỏ, mép vàng, có đỉnh cong ra ngoài. Nhị 6, ngắn hơn các mảnh bao hoa, chỉ nhị hình dùi, bao phấn hình trái xoan hay thuôn. Bầu hình trụ, bằng đầu, vòi nhụy hình sợi, đầu nhụy chia nhiều hạt có cánh. Có 2 loại: loại hoa trắng, thân hành trắng, loại hoa đốm tía, thân hành tía.

PHÂN BIỆT:

  • Cần phân biệt với cây hoa Loa kèn trắng còn gọi là Huệ tây (Lilium longiflorum Thub).
  • Cây Bách hợp khác với cây Huyên thảo hay Hoa hiên (Hemerocalls fulva Linn).
  • Không nhầm lẫn cây Bách hợp với cây Hoa loa kèn đỏ hay Tỏi voi (Amaryllis belladona Sweet.), thuộc họ Amaryllidaceae.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị ngọt, tính bình, không độc (Trung Dược Học).
  • Vị ngọt, tính bình (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

  • Vào kinh Tâm, Phế (Trung Dược Học).
  • Vào kinh Tâm và Phế (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐỊA LÝ:

Mọc hoang ở rừng núi có khí hậu mát ở vùng đồi trọc Hoàng liên sơn, Cao lạng, Tây bắc ở Việt Nam.

THU HÁI VÀ SƠ CHẾ:

Thu hoạch vào cuối hạ đầu thu sau khi hoa nở, cây bắt đầu khô héo thì đào lấy dò rửa sạch phơi hơi se, rồi tách ra từng vẩy hoặc nhúng qua nước sôi 5–10 phút cho dễ tách sau đó phơi cho thật khô. Khi dùng có thể sao qua hoặc tán bột.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Dùng thân hành khô gồm nhiều vẩy màu trắng hay màu trắng hơi tía. Mỗi vẩy thường hình thoi cong.

TÊN GỌI:

Dò (hành) của cây này có nhiều vẩy kết hợp lại trông giống như vẩy cá (bách: trăm, hợp: kết lại) nên có tên trên.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Dùng thân vảy, tép của dò, thương phẩm thường là lá vẩy khô rời, màu vàng trắng trong hình phiến sợi, dài 3–4cm, rộng độ 4–9cm, hơi dẹt mép cong co không đều. Bên trong có chỉ văn đi dọc rõ ràng chất cứng dòn, mặt bẻ ngang màu trắng ngà, phẳng chỉnh tề. Thứ tép khô, dày, không đen, không mốc mọt, sạch tạp chất, có nhiều chất nhờn, bề ngang trên cm là loại tốt nhất. Thứ bề ngang từ 4–9mm màu đen là hạng thứ phẩm. Không nhầm lẫn với loại tỏi voi, cây Loa kèn đỏ (đã mô tả ở trên), thứ này vảy mỏng to, không có chất nhờn, gây nôn mửa hoặc thứ vảy người ta cho là vảy Hải thông [Urginea maritima (L). Baker.] thuộc họ Liliaceae. Vẩy của nó giống vảy Bách hợp.

BÀO CHẾ

BẢO QUẢN:

Dễ hút ẩm biến thành màu đỏ nâu. Cần để nơi khô ráo không được sấy hơi diêm sinh làm mất màu trắng và biến mất vị.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị chứng bách hợp sau khi thương hàn có các chứng nằm ngồi không yên như ma quỷ ám nhưng đã ra mồ hôi: Bách hợp 7 cái tẩm nước suối 1 đêm, sáng ngày lấy nước suối khỵc sắc lại một chén. Lại lấy Tri mẫu 3 lượng sắc với nước suối 2 chén còn 1, đổ chung với nước Bách hợp sắc còn một chén 5 phân uống (Bách hợp tri mẫu thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
  • Trị bệnh Bách hợp đã làm mửa rồi: dùng Bách hợp 7 cái ngâm nước suối 1 đêm, sáng sắc hai chén còn một đổ vào cái lòng đỏ trứng gà uống, chưa đỡ uống tiếp (Bách hợp kê tử thang – Kim Quỹ Yếu Lược)
  • Trị điếc tai, đau trong lỗ tai: Bách hợp khô, tán bột, uống nóng, mỗi ngày 8g (Thiên Kim Phương).
  • Trị Phế ủng nhiệt làm bứt rứt khó chịu, ho hen: Bách hợp loại mới lấy về 120g, trộn mật, chưng mềm rồi ngậm nuốt từ từ (Thánh Huệ Phương).
  • Trị hóc xương: Bách hợp 150g, nghiền nhỏ, dùng mật ong dán quanh gáy và cổ họng, khi khô thì thay, ngày 3–5 lần (Thánh Tế Tổng Lục).
  • Trị Phế bệnh ho ra máu: Bách hợp giã nát, ép lấy nước cốt, trộn nước uống, hoặc chưng cho dễ uống (Vệ Sinh Dị Giản Phương).
  • Trị nhọt sưng lên không chảy mủ: Bách họp giã nát với muối, đắp vào (Ứng Nghiệm Phương).
  • Bổ Phế tư Thận, trị Phế bị tổn thương, họng đau, suyễn, ho có đờm và máu: Bách hợp, Thược dược, Đương Quy, Bối mẫu, Cam thảo sống, Thục địa hoàng, Sinh địa hoàng, Mạch đông, Huyền sâm, Cát cánh, tán bột, luyện mật làm viên, to như hạt ngô, mỗi lần uống 9g, lúc đói (Bách hợp cố kim hoàn –- Triệu Trấp Am).
  • Trị ho do phế nhiệt, mửa ra máu mủ: Bách hợp, Tri mẫu, Bối mẫu, Thiên môn, Mạch môn, Bách bộ, Tang căn bạch bì, Ý dĩ nhân, Tỳ bà diệp (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Lợi đại tiểu tiện: Bách hợp, Mạch môn đông, Bạch thược dược, Cam thảo, Đăng tâm, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị tà khí sinh nóng lạnh ê ẩm mình: Bách hợp, Tri mẫu, Sài hồ, Trúc diệp, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Bổ trung ích khí: Bách hợp, Bạch thược dược, chích Cam thảo, Mạch môn đông, Ngũ vị tử, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị phù thũng: Bách hợp, Bạch thược, Bạch phục linh, Xa tiền tử, Tang căn bạch bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị ho suyễn do Phế hư, âm hư hỏa vượng, cổ họng khô đau, ho, trong đàm có huyết, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác: Bách hợp, Bạch thược dược, Đương quy, Xuyên bối mẫu, đều 33g, Sinh địa 6g, Thục địa 9g, Mạch đông 6g, Huyền sâm, Cát cánh mỗi thứ 2,4g, Cam thảo 3g, sắc uống (Bách Hợp Cố Kim Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Bách hợp, Khoản đông hoa, 2 vị bằng nhau, tán bột mật ong viên mỗi lần uống 9g, ngày uống 3 lần sau bữa ăn nhai nhỏ với nước gừng sống hoặc nước. Trị ho hoặc đàm có máu trong trường hợp phế táo (Bách hoa cao – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị đau dạ dày mãn tính hay tái phát, ợ hơi sình bụng: Bách hợp 30g, Ô dược 9g, sắc uống. Vị hàn thêm Cao lương khương 3g, Đau nhức thêm Diên hồ sách 9g, có thể làm viên để uống (Bách hợp ô dược thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

CHỦ TRỊ

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Trị ho, Phế táo, Phế nhiệt, ho ra máu, hồi hộp, bứt rứt bồn chồn: Dư nhiệt chưa dứt sau khi sốt, tinh thần hốt hoảng (Trung Dược Học).
  • Thanh Phế nhiệt, an tâm thần. Trị hư lao, thổ huyết, thần chí hoảng hốt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Dưỡng âm, nhuận Phế, dưỡng Tâm, an thần, đồng thời có tác dụng khử đàm, chỉ ho (Trung Dược Học).

LIỀU DÙNG:

Từ 6–18g.

KIÊNG KỴ:

Ho do phong đàm: không dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Nếu hàn thấp cùng ứ trệ, Tỳ Thận dương suy thì đều nên kiêng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

CÁCH DÙNG:

Tẩm mật sao.

THAM KHẢO

  • Bách hợp khí bình vị ngọt, có khi có hơi lạnh chứa không độc, thuốc nhập vào kinh Thủ thái âm, Thủ dương minh, ngoài ra còn vào kinh thủ thiếu âm cho nên trị được chứng tà khí nóng ở bên trong làm cho bụng trên sình đầy. Có người bảo rằng “Vì thế nào mà gọi tà khí?” “Xin đáp” Đó là tà nhiệt, bởi tà nhiệt ở trong bụng cho nên mới làm cho bụng phình đầy lên. Còn gọi là thanh tức là thanh tà nhiệt đi thì chứng căng đầy tự nhiên tiêu tan làm cho thanh sảng, làm thông lợi tức là giải lợi được tà nhiệt trong tâm kinh, khi giải được tà nhiệt trong tâm kinh rồi thì những chứng đau kia tự nhiên hết. Kế đến, Thận thủ về nhị tiện, Thận và Đại trường có quan hệ biểu lý với nhau mà một khi đã cảm phải nhiệt tà thì không thông được nữa, nếu muốn cho nó thông lợi dĩ nhiên phải thanh nhiệt tà của 2 kinh đó thì đại tiểu tiện tự nhiên thông lợi. Bởi vì khí vị ngọt của Bách hợp có tác dụng bổ trung, khi nhiệt đã được mát rồi thì khí tự nhiên hóa sinh ra. Cho nên sách mới nói là có tác dụng bổ trung ích khí, thanh nhiệt, lợi đại tiểu tiện. Do sự quan hệ với nhau cho nên khi trị về phù thũng hay đau bụng, bụng căng sình, sốt rét đau nhức cả người, không có sữa cũng đều bởi túc dương minh vị kinh bị nóng quá mà sinh ra. Trong những chứng liệt họng là do thủ Thiếu dương Tam tiêu cũng như Thiếu âm Tâm kinh nóng. Còn có những người nhiều lúc thường khô hay chảy nước mắt nước mũi hoài là tại Phế và Can quá nóng vậy (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Bách hợp khí bình, vị ngọt, lại thanh được tâm khí, định được hồn phách, làm hết lo âu sợ hãi. Ngoài ra làm nhuận da làm cho đẹp đẽ tốt tươi thông nhử chấp, trị các bệnh phong, đuổi tà nhiệt, hòa được thấp khí, tiêu tan được mụn nhọt sưng đau (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
  • Bách hợp cốt trị khí nóng ở Tâm và Phế, có tính thu liễm nên cũng có công dụng an hồn, định phách, bệnh ho đã lâu mới dùng được. Mới ho không nên dùng, trị nóng, trị di nhiệt, còn lại chỉ là loại nóng thường, còn nóng lắm hay là mới phát nóng thì dùng vô ích (Bách Hợp).
  • Bách hợp có công dụng thông được Phế và Tâm, thu liễm được khí, nuôi dưỡng Tâm Can, yên Thận, định được phần khí phách. Nhưng xét cho cùng thì Bách hợp là vị thuốc chính yếu trong việc thanh tà trừ nhiệt lợi thấp vì có khí vị hơi hoãn, lại nữa vì có vị ngọt nên nó thu liễm ở trong, đối với tâm và phế rất tâm đắc, hơn nữa đó là vị thuốc chẳng có gì làm trở ngại cho huyết phận vì thế khi bệnh nhân còn có dư nhiệt làm nằm ngồi không yên, ho không rứt, nước mắt nước mũi lòng ròng, tâm thần không định nên có những cử chỉ như ma quỷ, nếu biết được bệnh đó không sao chỉ dùng Bách hợp để giải trừ các chứng hư nhiệt ấy, nuôi dưỡng thần hồn thì các chứng trên tiêu mất vậy. Nên chỉ khi nào làm cho con người không lo, được yên ổn đó chẳng là những lúc an thần ích khí đó sao?. Cho nên Trương Trọng Cảnh dùng nó để trị Bách hợp bệnh, thật là hiểu đến chỗ tinh vi chí lý hơn người vậy. Tuy nhiên đối với người mới no không nên dùng vội vàng, khi dùng có tác dụng tốt nên dùng loại Bách hợp hoa trắng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Cây Bách hợp còn cho hạt gọi là Bách hợp tử sao với rượu cho hơi đỏ nghiền uống trị tiêu ra máu. Cây cho hoa gọi là Bách hợp hoa trị chứng thấp sang trẻ con phơi nghiền nhỏ tẩm dầu mè xức. Cháo bột Bách hợp gọi là Bách Hợp Phấn Chúc có tác dụng nhuận phế điều trung (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Xưa nay đều dùng Bách hợp thanh nhiệt, tiết giáng là chủ yếu. Bệnh Bách hợp vốn là triệu chứng dư nhiệt chưa thanh giải hết sau khi bị thương hàn, cho nên dùng Bách hợp để thanh tiết nhiệt tà ở Phế Vị (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search