TÊN KHÁC
Huệ thảo (Biệt Lục) Linh lăng thảo, Hương thảo (Khai Bảo Bản Thảo), Hoàng linh thảo (Tục Danh), Hương lan, Huân thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
MÔ TẢ
Cây thảo sống đa niên, rễ ở dưới đất thân khô nhưng ở dưới vẫn sống và mọc lại được, lá mọc đối, trơn sáng, mép có lá khía răng nhọn, thân màu hồng tím, lá màu lục. Hoa nhỏ mọc ở đầu cành, nhụy hoa màu tím nhạt. Thân và lá đều dùng để làm thuốc. Cây này với tên Bội lan, ở Trung Quốc dùng rất nhiều cây khác nhau. Cần nghiên cứu thêm.
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị cay, tính bình (Bản Kinh).
- Vị ngọt, tính hàn (Bản Thảo Cương Mục).
- Vị cay, ngọt, khí bình, hàn (Bản Thảo Mông Thuyên).
- Vị đắng cay, tính ấm, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
QUY KINH:
- Vào kinh Phế (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Vào kinh thủ Thái âm [Phế], túc Dương minh Vị.
- Vào kinh Phế, Vị (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
ĐỊA LÝ:
Thường ở nơi ẩm thấp, hiếm thấy ở nước Việt Nam.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Thân lá.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Thân của toàn cây khô Bội lan hình viên chùy, thô khoảng 3mm, vỏ ngoài màu xanh lục, nâu nhạt, có vân dọc không rõ ràng, chất dòn, mặt cắt rộng giữa lá nhăn teo màu xám lục hoặc lục nâu dễ vỡ, có mùi thơm nồng nặc.
TÊN GỌI:
Cây có mùi thơm nên gọi là Hương thảo, ngày xưa đeo để trừ khí độc gọi là Bội lan, loại mọc ở Linh lăng là thứ tốt nên mới gọi là Linh lăng thảo.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị thấp trọc làm rối loạn Tỳ Vị, sình bụng tức ngực: Bội lan, Hoắc hương, Chế bán hạ, Đại phúc bì đều 9g, Hậu phác, Hà diệp đều 6g, Trần bì 4,5g, sắc uống (Phương hương hóa trọc pháp - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị thấp ôn thời kỳ đầu, phát sốt sau 12 giờ trưa, tiểu vàng đỏ, miệng đắng như ngải, rêu lưỡi hơi vàng: Bội lan, Hậu phác, Chỉ thiệt đều 6g Hoắc hương, Chế bán hạ, Hoàng cầm đều 9g, Hoàng liên 4g, Hoạt thạch 12g, Ý dĩ nhân 15g, sắc uống (Tân Khô Hương Đạm Thang).
- Trị trúng thử, đầu đau: Bội lan, Thanh cao, Cúc hoa đều 9g, Lục đậu y 12g. Sắc uống (Thanh Hải Trung Thảo Dược Thủ Sách).
- Trị viêm trường vị cấp tính vào mùa hè, đau bụng, ỉa mửa, ăn uống không biết ngon: Bội lan, Hoắc hương, Thương truật, Phục linh, Tam khỏa châm, mỗi thứ 9g, sắc uống (Toàn Quốc Trung Thảo Dược Hội Biên).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG:
- Lợi thủy đạo, sát trùng độc, uống lâu có tác dụng ích khí, cơ thể nhẹ nhàng, sống thọ thông thần minh (Bản Kinh).
- Trừ đờm tích ở ngực (Biệt Lục).
- Khí của nó thơm, nhẹ nên có tác dụng sinh tân, chỉ khát, ích khí, nhuận cơ phu, tiêu khát (Bản Thảo Phát Huy).
- Hóa thấp, kiện Vị (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Giải thử, hóa thấp, tịch uế hòa trung (Trung Hoa Bản Thảo).
CHỦ TRỊ:
- Trị thấp ở phần biểu, thấp hại đến Tỳ Vị, cảm nắng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị Cảm thử thấp nóng lạnh, thấp trọc đình trệ bên trong, ngực đầy, muốn nôn, nôn mửa, miệng khát, tiêu khát (Trung Hoa Bản Thảo).
LIỀU DÙNG:
Dùng từ 6–9g, tươi 9–15g.
KIÊNG KỴ:
- Âm hư, huyết táo, khí hư cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Vị khí hư yếu, cấm dùng (Đắc Phối Bản Thảo).
THAM KHẢO
- Bội lan và Hoắc hương đều là những vị có mùi thơm, giúp tiêu tà khí thử thấp, uế trọc. Đó là thuốc chủ yếu thường cùng dùng với nhau vào mùa nắng nóng. Tuy nhiên Hoắc hương vị cay, tính ôn, giỏi khai thông trung tiêu, tác dụng chống nôn rất mạnh. Còn trên lâm sàng, nếu do thấp nhiệt, miệng dính nhớt, không khoan khoái, nôn ra nước miếng đặc thì Bội lan có hiệu quả tốt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Bội lan và Hoắc hương có tác dụng giống nhau, đều phương hương hóa thấp, khư trọc. Hoắc hương thiên về tư lý, đạt biểu, chỉ ẩu, kèm giải biểu, Bội lan thiên về tấu lý, hướng nội, tỉnh Tỳ, khai Vị, Bội lan tươi khí thơm càng nồng, tác dụng thanh thử, khứ trọc càng rõ (Thực Dụng Trung Y Học).


