Địa Cốt Bì

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ:

Đại Kiến Bản Thảo Tên khoa học: Cortex lycci Chinensis. Họ khoa học: Cà (Solanaceae).

TÊN KHÁC

Khô kỷ, Khổ di, Kỷ căn, Khước thử, Địa tinh, Cẩu kế, Địa tiết, Địa tiên, Tiên trượng, Tiên nhân tượng, Khước lão căn, Tử kim bì, Địa cốt quan, Phục trần chiên, Tây vương mẫu trượng, Kim sơn già căn (Hòa Hán Dược Khảo), Tính cốt bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Cẩu địa nha bì (Tứ Xuyên Trung Dược Chí).

MÔ TẢ

Địa cốt bì là vỏ rễ của cây Câu kỷ (Lycium sinense Mill) thuộc họ Cà (Solanaceae).

PHÂN BIỆT: Ở một số nơi ở Việt Nam, cũng như ở Trung Quốc, người ta dùng vỏ rễ của cây Đại thanh (Isatis tinctoria L.,) hoặc vỏ của cây rễ Bọ mẩy (Clerodendron Cyrtophyllum Turcz) để thay thế cho vị Địa cốt bì. Cần phân biệt chú ý để khỏi nhầm lẫn.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị đắng, tính hàn (Bản Kinh).
  • Rất lạnh (Biệt Lục).
  • Vị đắng, ngọt, tính hàn (Bảo Khánh Bản Thảo Chiết Trung).
  • Vị ngọt, tính lạnh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

QUY KINH:

  • Vào kinh Phế, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
  • Vào kinh thủ và túc Thiếu âm, túc Quyết âm (Bản Thảo Hội Ngôn).
  • Vào kinh Phế, Can, Thận, Tam tiêu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Đào được rễ, rửa sạch, rút bỏ lõi. Thu hái vào trước đầu mùa xuân hoặc cuối mùa thu.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Vỏ rễ.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Địa cốt bì có vỏ cuộn hình lòng máng hay hình ống, hoặc hai lần hình ống. Mặt ngoài màu vàng đất hay vàng nâu, có những đường nứt dọc ngang, có lớp bần dễ bong. Mặt trong màu trắng hay vàng xám có nhiều đường vân dọc, đôi khi còn sót một ít gỗ. Chất nhẹ, dòn, dễ bẻ. Mặt bẻ lởm chởm. Mặt cắt ngang, có lớp bần phía ngoài, libe phía trong màu trắng xám. Mùi thơm hơi hắc, vị lúc đầu hơi ngọt, sau hơi đắng. Loại phiến lớn không có lõi là tốt. Vỏ to dầy, sắc vàng lại có đốm trắng nhiều lõi là loại xấu. Trong khi đó vỏ rễ của cây Bọ mẩy có vỏ cuộn tròn hình lòng máng hay cuộn hình ống. Mặt ngoài màu vàng nâu đến lục xám, sần sùi, mặt trong màu vàng nâu, có nhiều đường vân dọc, hơi sần sùi. Chất dòn; dễ bẻ. Mặt bẻ thô. Mặt cắt ngang có lớp bầm mỏng, mô mềm vỏ lổn nhổn như có sạn. Không mùi, vị hơi chát, khi nhấm như có sạn.

BÀO CHẾ:

Sau khi cắt thành từng đoạn ngắn bằng nhau, sắc nước Cam thảo ngâm một đêm rồi vớt ra sấy khô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

Chọn vỏ không còn lỏi, rửa sạch, xắc nhỏ phơi khô dùng sống, có khi tẩm rượu sấy qua (Trung Dược Học).

BẢO QUẢN:

Để nơi khô ráo, không nên chất nặng lên sợ dẹp nát.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Sâu nhức răng, dùng Rễ câu kỷ loại vỏ trắng sắc với dấm súc ngậm hoặc sắc với nước uống cũng được (Trửu Hậu Phương).
  • Trị hư lao, sốt hâm hấp: Rễ Câu kỷ tán bột uống với nước sôi, bệnh nhân mãn tính cố tật lâu ngày không nên dùng (Thiên Kim Phương).
  • Trị ra mồ hôi, ở tay chân, vai, lưng mọc mụn lấm tấm như hạt đậu đỏ: dùng rễ cây Câu kỷ, Quỳ căn diệp sắc lấy nước thật đặc dính như Mạch nha uống (Thiên Kim Phương).
  • Trị 13 loại đinh nhọt, 3 ngày thượng kiến mùa xuân, thu hái lá gọi là Thiên tinh, 3 ngày thượng kiến mùa hè thu, hái nhánh gọi là Câu kỷ, 3 ngày thượng kiến mùa thu, thu hái quả gọi là Khước lão, 3 ngày thượng kiến mùa đông thu hái rễ gọi là Địa cốt. Phơi khô tán bột, nếu không theo như thế để chọn lựa thu hái có thể dùng 1 loại cũng được. Ngưu hoàng lớn bằng hạt ngô đồng lớn, Câu cức châm 7 quả, Xích tiểu đậu 7 hạt. Tán bột làm bánh, trộn bột Câu kỷ uống với rượu lúc đói ngày 2 lần (Thiên Kim Phương).
  • Trị hư lao, đắng miệng, khát nước, xương khớp nóng bứt rứt, hoặc lạnh: Câu kỷ (rễ) loại vỏ trắng, cắt ra 5 thăng. Mạch môn 3 thăng, Tiểu mạch 2 thăng, nấu cho đến khi chín nhừ, bỏ bã mỗi lần uống một thăng, khi khát thì uống (Thiên Kim Phương).
  • Trị bạch đới, mạch Sác: rễ Câu kỷ 1 cân , Sinh địa hoàng 5 cân, 1 đấu rượu. Sắc còn 5 thăng uống hằng ngày (Thiên Kim Phương).
  • Đau thắt lưng do thận suy dùng Rễ câu tử, Đỗ trọng, Tỳ giải mỗi thứ 1 cân, ngâm với 3 đấu rượu ngon bịt kín, bỏ trong nồi nấu 1 ngày, khi thích thì uống (Thiên Kim Phương).
  • Làm mạnh gân cốt, bổ tinh tủy, sống lâu không già: dùng Câu kỷ (rễ), Sinh địa hoàng, Cam cúc hoa, mỗi thứ 1 cân đâm nhuyễn, lấy 1 chén nước lớn sắc lấy nước cốt, lấy nước này mà nấu xôi. Xôi chín xới ra để nguội rải đều cho men rượu vào đợi lên men cho chín cất thành rượu để lắng trong ngày uống 3 chén (Địa cốt tửu – Thánh Tế Tổng Lục).
  • Trị chứng nhiệt lao người nóng như đốt: Địa cốt bì 60g, Sài hồ 30g tán bột. Mỗi lần uống 6g với nước sắc Mạnh môn (Thánh Tế Tổng Lục).
  • Nôn ra máu không dứt, dùng rễ Câu kỷ (vỏ) tán bột sắc uống hàng ngày (Thánh Tế Tổng Lục).
  • Trị tiểu ra máu: Địa cốt bì mới, rửa sạch, giã nát lấy nước, sắc, mỗi lần uống 1 chén, hoặc bỏ vào một ít rượu, uống nóng trước khi ăn (Giản Tiện Phương).
  • Trị nóng nảy bứt rứt, nóng trong xương và các loại nóng nảy bứt rứt do hư lao, nóng nảy bứt rứt sau khi bệnh nặng: Địa cốt bì 60g, Phòng phong 30g, Cam thảo (chích) 15g, chặt nhỏ, trộn đều. Mỗi lần dùng 15g sắc với 5 lát gừng tươi uống (Địa tiên tán – Tế Sinh Phương).
  • Trị dịch sưng đỏ mắt: Địa cốt bì 3 cân, 3 đấu nước, sắc còn 3 thăng, bỏ bã, bỏ vào 30g muối, sắc còn 2 thăng, đem rửa mắt (Thiên Trúc Kinh Phương).
  • Trị bàng quang di nhiệt vào tiểu trường, ở trên làm cho miệng lở loét, tâm nhiệt vị uất, cơm nước ăn không xuống: Sài hồ, Địa cốt bì mỗi thứ 9g, sắc uống (Địa cốt bì thang – Lan Thất Bí Tàng). • Trị trẻ nhỏ bị cam ăn ở tai, sau tai là do thận cam: Địa cốt bì sắc lấy nước rửa, hoặc trộn với dầu Mè bôi vào (Cao Văn Hổ, Liêu Châu Nhàn Lục Phương).
  • Trị rò, cam sang, lâu năm không dứt: Địa cốt bì, mùa đông tán bột, mỗi lần dùng lấy giấy cuộn lại chấm thuốc bỏ vào lỗ rò hoặc nơi lở nhiều lần thì tự nhiên sinh thịt mới, rồi lại lấy thuốc bột này uống với nước cơm, mỗi lần 6g, ngày 3 lần (Ứng hiệu tán – Ngoại Khoa Tinh Nghĩa).
  • Trị đàn ông dương vật sưng, loét, ngứa, máu mủ cứ chảy nước bẩn ra: Trước hết lấy nước tương rửa sạch, sau đó lấy bột Địa cốt bì bôi, có tác dụng sinh cơ giảm đau (Vệ Sinh Bảo Giám).
  • Trị phụ nữ âm hộ lở loét: rễ Câu kỷ sắc rửa nhiều lần (Vĩnh Loại Kiềm Phương).
  • Trị ung nhọt lở nhiều, máu mủ chảy ra không dứt: Địa cốt bì nhiều ít tùy ý, rửa sạch, cạo bỏ vỏ tho,â lấy vỏ mịn trắng ở trong, lấy vỏ thô sắc lấy nước rửa làm cho sạch máu mủ, rồi lấy vỏ mịn trắng dán đắp lên đó rất có hiệu quả. Trước đây có vị quan trong triều ở giữa bụng và nách bị nhọt đã lâu năm, lấy Địa cốt bì sắc rửa thì ra máu 1–2 thăng, người nhà sợ muốn bỏ không rửa nữa, ông nói mặc dù ra máu nhưng thấy dễ chịu và rửa tiếp chừng 5 thăng thì thấy máu nhạt dần rồi thôi, xong lấy vỏ mịn trắng đắp lên, ngày sau khô đóng vẩy rồi lành (Bản Sự Phương).
  • Trị chai chân, ngón chân đau lở: dùng Địa cốt bì, Hồng hoa tán bột bôi vào, nhiều ngày thì lành (Khuê Các Sự Nghi Phương).
  • Trị lao phổi trong xương nóng âm ỉ, ra mồ hôi trộm: Địa cốt 9g, Miết giáp 9g, Tri mẫu 9g, Ngân sài hồ 12g, Tần cửu 9g. Sắc uống (Địa cốt bì thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị trẻ nhỏ cam tích hay sốt về chiều: Địa cốt bì tươi và lá, thân mỗi thứ 15g, Thiến thảo quy 15g, Gan heo 30g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị viêm khí quản, viêm phổi, ho, ôn độ thấp, ho, thở khò khè: Địa cốt bì 9g, Tang bạch bì 9g, Sinh cam thảo 6g, Gạo nếp 15g. Sắc uống (Tả bạch tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). Trị đái đường, khát nước, đái nhiều: Địa cốt bì, Ngọc mễ tu mỗi thứ 480g, mỗi ngày dùng 24g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

CHỦ TRỊ TÁC DỤNG

CHỦ TRỊ:

  • Chủ ngũ nội tà khí, nhiệt trung, tiêu khát, chu tý. Uống lâu ngày mạnh gân xương, thân hình nhẹ nhàng, không già (Bản Kinh).
  • Chủ phong thấp, hạ hung hiếp khí, khách nhiệt đầu thống, bổ nội thương, đại lao hư tổn, làm mạnh gân xương,lợi đại tiểu trường (Biệt Lục).
  • Trừ nhiệt ở xương, trị tiêu khát (Thực Liệu Bản Thảo).
  • Giải cốt chưng, cơ nhiệt, chủ tiêu khát, phong thấp tý (Y Học Khải Nguyên).
  • Thanh nhiệt, lương huyết (chuyên trị nóng trong xương), đồng thời có tác dụng sinh tân, chỉ khát, Trị sốt về chiều do âm hư, sốt lâu ngày không lui (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

LIỀU DÙNG: 9 – 15g.

KIÊNG KỴ:

Vị này chuyên thanh hư nhiệt hễ bị ngoại cảm phong hàn phát sốt thì cấm dùng. Tỳ Vị hư hàn cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển). Người trong xương không có nhiệt và trúng hàn thì cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

THAM KHẢO

  • Địa cốt bì tán nhỏ hòa bột mì nấu chín ăn, khử được phong ở thận, ích tinh khí (Dược Tính Bản Thảo).
  • Địa cốt bì khử nóng âm ỉ trong xương, tiêu khát (Thực Liệu Bản Thảo).
  • Địa cốt bì trị được các vết thương do dao búa rất tốt và thần hiệu (Bản Thảo Biệt Thuyết).
  • Địa cốt bì giải nóng âm ỉ trong xương và da nóng, tiêu khát, phong thấp tê, cứng mạnh gân xương, mát huyết (Trân Châu Nang).
  • Địa cốt bì trị phong tà vô địch ở biểu và chứng lao phổi, nóng trong xương có mồ hôi (Dụng Dược Pháp Tượng).
  • Địa cốt bì tả thận hỏa, giáng phục hỏa trong phế, khử hỏa trong bào thai, giảm sốt, bổ chính khí (Thang Dịch Bản Thảo).
  • Địa cốt bì trị thổ huyết vùng thượng cách, sắc nước súc miệng cầm chảy máu răng trị cốt tào phong (chứng sưng hàm gò má rất khó trị) (Nhật Dụng Bản Thảo).
  • Địa cốt bì khử hư nhiệt ở hạ tiêu Can Thận (Bản Thảo Cương Mục).
  • Địa cốt bì tức là vỏ rễ của cây Câu kỷ, vị ngọt khí hàn. Tuy với Đơn bì cũng là thuốc trị cốt chưng, nhưng Đơn bì vị cay, trị được nóng âm ỉ trong xương không ra mồ hôi, còn Địa cốt bì có vị ngọt trị được chứng âm ỉ trong xương có mồ hôi. Đơn bì lại vốn thuộc loại vào huyết phận, tán ứ, mồ hôi là huyết, không có mồ hôi mà thấy huyết ứ thì mùi cay hàn là thích hợp nhất. Nếu nóng âm ỉ trong xương mà có mồ hôi, dùng Đơn bì cay, phát tán, thì quả thật làm cho mồ hôi bị cướp đoạt và mát máu chăng. Sách Nội Kinh cho rằng, nhiệt tà ở bên trong, tả bằng vị ngọt tính mát, đó là Địa cốt bì. Địa cốt bì vào phế, giáng hỏa, vào thận, mát huyết, mát xương, hễ nội nhiệt mà thấy sốt, hơi nóng ở cơ da, bí đại tiểu tiện, ngực sườn đau nhói, hễ ở đầu đau do phong, ở biểu thấy sốt cơn không rõ, ở phế thấy tiêu khát, ho không ngừng, đều dùng thuốc này để giải. Người đời nay chỉ biết Cầm, Liên để trị hỏa ở thượng tiêu, biết Tri Bá để trị hỏa ở hạ tiêu, mà không biết ý nghĩa ngọt nhạt, hơi lạnh của Địa cốt bì, cực kỳ bổ âm, thoái nhiệt vậy, thường có công hiệu đặc biệt. Lý Đông Viên ghi rằng Địa là âm, Cốt là lý, là bí tiểu, dùng thuốc này vừa trị nội nhiệt không sinh, lại trị tà dồn ra ở biểu lý, đều khỏi cả, đây là thuốc biểu lý, trên dưới đều trị, mà ở phần dưới lại càng cần thiết hơn, nhưng tỳ vị hư hàn thì cấm dùng. Khi dùng ngâm nước Cam thảo để dùng (Bản Thảo Cầu Chân).
  • Địa cốt bì có vị ngọt tính trầm, mà rất lạnh, chuyên để lui mồ hôi, lao nhiệt nóng trong xương, hỏa phục ở thận và phế, bổ ích khí của can, mát huyết, mát xương, trừ tà khí trong ngũ tạng, tiêu khát, nhiệt ở trung tiêu, cùng trừ nhiệt ở cơ thịt, lợi đại tiểu tiện. Trị nóng trong xương, công ngang với Đơn bì, nhưng Đơn bì giải chứng không ra mồ hôi, so với Tri, Bá đắng và hàn sao bằng Cốt bì ngọt mà hàn, hạ khí của dạ dầy. Sách nói rằng: Ruột trơn thì cấm dùng Câu kỷ tử, hàn lãnh ở trong thì cấm dùng Địa cốt bì (Dược Phẩm Vậng Yếu, tập Thủy).
  • Vị Đơn bì cùng với Địa cốt bì đều có tác dụng thanh âm và thanh nhiệt ẩn núp trong phần âm, có thể trị lao nhiệt nóng bứt rứt trong xương. Nhưng, Đơn bì lạnh mà vị cay, thích hợp trong chứng không ra mồ hôi, còn vị Địa cốt bì lạnh mà vị ngọt, thích hợp trong trường hợp chứng có mồ hôi (Trung Dược Học Giảng Nghĩa). • Địa cốt bì và Đơn bì đều có thể thanh phục nhiệt ở phần âm, trị chứng cốt chứng, sốt về chiều nhưng Đan bì vị cay, có thể phát tán, nặng về thanh thấu, trị cốt chưng, lao nhiệt mà không có mồ hôi. Còn Địa cốt bì vị ngọt, thiên về tấu lý, nặng về thanh giáng, trị nóng trong xương, sốt về chiều mà có mồ hôi. Đơn bì thanh nhiệt trong huyết, Địa cốt bì trừ nhiệt trong huyết (Thực Dụng Trung Y Học).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search