Xuất xứ:
Bản Kinh Tên khoa học: Angelica sinensis (Olive) Diels, (Angelica polymorpha Maxim.var. sinensis Olive). Họ khoa học: Họ Hoa Tán (Apiaceae).
TÊN KHÁC
Can quy (Bản Kinh), Sơn kỳ, Bạch kỳ (Nhĩ Nhã), Văn vô, Tần quy (Bản Thảo Cương Mục), Thảo đầu quy (Biệt Lục), Mã vĩ quy, Đại cần, Danh bệ, Tượng mã, Khích hy, Nữ nhị thiên, Địa tiên viên, Di linh chi, Tăng am thảo (Hòa Hán Dược Khảo), Đương quy, Tần đương quy, Tây đương quy, Toàn đương quy, Đương quy thân, Bạch quy thân, Đương quy vĩ, Đương quy tu, Du đương quy, Tửu sao đương quy, Thổ sao đương quy (Đông Dược Học Thiết Yếu).
MÔ TẢ
Cây nhỏ sống lâu năm, cao 45 – 70cm, có thể đến 1m. Rễ cọc hình chùy có rễ phụ giao thoa lại với nhau có mùi thơm nồng. Thân hình trụ, có rãnh dọc, màu hơi tía, phần trên phân nhánh. Lá mọc so le, cuống dài 3 – 12cm, Lá kép xẻ lông chim 3 lần, 3 đôi lá chét. Đôi lá chét ở phía dưới có cuống dài, đôi lá chét trên đỉnh không có cuống, lá trét lại xẻ 1–2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Cụm hoa hình tán kép, gồm 12–20 tán, dài ngăn không đều, có khi hơn. Hoa màu xanh trắng, hoa rất nhỏ. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Toàn cây nhẵn và có mùi thơm đặc biệt. Mùa hoa quả: tháng 7 – 8.
DƯỢC LÝ
- Tác dụng 2 chiều đối với tử cung: Rễ của Angelica Sinensis có 2 thành phần: 1 thành phần kích thích tử cung, 1 thành phần ức chế tử cung: Chất tan vào nang hoặc cồn không phải tinh dầu có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập, còn chất bốc hơi sôi ở nhiệt độ cao và dầu Đương quy có tác dụng ức chế và lúc áp lực trong tử cung cao thì thuốc làm tăng co bóp tử cung. Trên chuột nhắt được nuôi với thức ăn có 5% Đương quy trong 4 tuần thấy ở tổ chức gan, lượng tiêu thụ Oxygen tăng và năng lực sử dụng Glucosa ở tử cung tăng. Trong tử cung, sự tổng hợp Acid Nucleic không tăng nhưng lượng ADN tăng rõ rệt, do đó Đương quy có tác dụng gây tăng sinh tử cung.. Đương quy còn có tác dụng gia tăng sự tổng hợp Protid khiến tử cung dầy lên. Đương quy còn có khả năng chống sự thiếu hụt Vitamin E phòng ngừa sẩy thai nhưng không thể hiện rõ tác dụng như Oestrogen (Trung Dược Đại Từ Điển).
- Hoạt chất chiết từ Đương quy (gồm toàn bộ đầu, thân và rễ) tiêm cho chó đã gây mê thì thấy đối với tử cung 10 con không có thai có 37,5% có hiện tượng co, đối với chó có thai hoặc đẻ không lâu thì 100% có hiện tượng co tử cung. Nếu dùng tinh thể không có tính chất bay hơi, không có đường và kiềm tính chiết từ Đương quy ra để tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì cũng thấy sức co bóp của tử cung tăng mạnh nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao. Nếu dùng tinh thể nói trên pha với dung dịch Thiros thành 1/2.000.000 rồi thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ thì cũng thấy hiện tượng co bóp kéo dài (Y Bác An, Chinese Medical Journal 1924, 38: 362). • Dùng tinh dầu của Đương quy tiến hành 88 lần thí nghiệm trên tử cung cô lập của động vật và phát hiện thấy đối với tử cung cô lập của thỏ, chó và chuột bạch (có thai hoặc không có thai), với nồng độ 1/50 có tác dụng giãn nghỉ nhưng tác dụng nhanh và kéo dài, nếu rửa hết thuốc thì tính chất khẩn trương lại khôi phục lại, như vậy chứng tỏ dầu Đương quy không làm thương tổn nhiều đối với cơ tử cung. Với nồng độ 1/25 thì sự co của tử cung lập tức ngưng. Với nồng độ 1/100 thì hơi có tác dụng giãn nghỉ. Tác dụng trên của Đương quy ngược lại với tác dụng của tuyến yên và của Histamin, tức là sau khi tác động bằng Atropin Sufat thì có thể xuất hiện, do đó cho rằng tác dụng của Đương quy không do tác dụng trên hệ thống thần kinh mà do tác dụng trực tiếp ức chế trên cơ trơn của tử cung và do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn này mà trị được bệnh thống kinh, so với Atropin thì an toàn hơn. Tuy nhiên năm 1949, Trương Xương Thiệu trong Trung Hoa tạp chí 1949, 35: 353, cho rằng xem tính chất trực tiếp ức chế cơ trơn của tử cung là đại diện cho cách tác dụng của Đương quy chưa được chính xác lắm (Lưu Thiệu Quang, Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1935, 21: 611). • Tăng huyết sắc tố và hồng cầu: dịch ngâm Đương quy cho chuột nhắt uống làm tăng huyết sắc tố và hồng cầu. Tác dụng này có quan hệ với hàm lượng Vitamin B12 và Acid Folic trong Đương quy (Trung Dược Học).
- Đối với Tim mạch: Đương quy có tác dụng làm giãn động mạch vành, giảm tiêu hao lượng Oxy của cơ tim, giảm ngưng tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối, có tác dụng làm giảm rối loạn nhịp tim và hạ Lipid huyết. Cao nước Đương quy hoặc dạng chiết với Ether tác dụng trên tâm nhĩ thỏ cô lập, kéo dài giai đoạn trơ, do đó có tác dụng đối kháng với chứng cuồng nhĩ gây thực nghiệm bởi Acetycholin hoặc kích thích điện và đối kháng với hoạt tính gây tăng nhanh nhịp tim của Cà độc dược (Trung Dược Học).
- Tác dụng trên tim của Đương quy giống như tác dụng của Quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong Ether Ethilic (Ngụy Liên Cơ (Sinh Lý Học Báo 1956, 20 (2): 105 - 110).
- Đương quy có tác dụng làm giãn huyết quản ngoại vi, làm dịu co thắt cơ trơn của huyết quản ngoại vi, tăng lưu lượng máu, vì thế, Đương quy có tác dụng giảm đau. Tinh dầu Đương quy làm huyết áp tăng nhưng chất hòa tan trong nước thì hạ huyết áp. Nước sắc hoặc cao cồn Đương quy tiêm tĩnh mạch cho súc vật gây mê có tác dụng hạ áp. Có ý kiến cho rằng thành phần tinh dầu làm tăng huyết áp, thành phần không tinh dầu làm hạ huyết áp (Y Bác An, Chinese Medicine Journal 1924, 38: 362).
- Theo dõi tác dụng của tinh dầu Đương quy đối với huyết áp và hô hấp của thỏ, mèo và chó thì thấy rằng tùy theo lượng lớn hoặc nhỏ tinh dầu tiêm vào mạch máu mà tác dụng có khác nhau: Liều nhỏ: huyết áp hơi hạ thấp, hô hấp hơi bị kích thích hoặc bị ảnh hưởng rất ít. Liều trung bình: huyết áp hạ thấp nhiều hơn, hô hấp khó khăn. Liều cao: huyết áp hạ rất mạnh, hô hấp khó khăn rõ rệt, cuối cùng hô hấp ngưng lại, gây chết.
- Tác dụng gây ra hô hấp khó khăn đối với thỏ ít hơn so với chó và mèo vì vậy có thể TRANG 4 nói độ độc của Đương quy đối với huyết áp hoặc hô hấp rất thấp (Lưu Thiệu Quang, Trung Hoa Y Học Tạp Chí 1935, 21: 611).
- Bài thuốc Tứ Vật (Khung, Quy, Thục, Thược) trong đó có Đương quy đã được nghiên cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng Acetat chì, có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu và tỉ lệ huyết sắc tố của súc vật gây thiếu máu. Đương quy chứa Vitamin B12 và Acid Folic vì vậy có tác dụng chống thiếu máu ác tính (Trung Dược Học).
- Tác dụng giảm đau, an thần: Nước sắc và dạng chiết bằng Ether của Đương quy có tác dụng gây trấn tĩnh. Theo Tửu–Tinh–Hòa–Thái–Lang (Nhật bản, 1933) thì tinh dầu của Đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não. Lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống nhưng sau thì tê liệt đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp, nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước rồi đến liệt tim (Trung Dược Học).
- Đối với Vitamin E: Nghê Chương Kỳ (Chinese Journal Physiol 1941, 16: 373) báo cáo: dùng thức ăn thiếu Vitamin E nuôi chuột trong 2–3 tháng, 100% chuột bị thiếu Vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thêm vào thức ăn 5-6% Đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu Vitamin E nữa. Tác giả cho rằng dân gian sở dĩ dùng Đương quy làm thuốc an thai phải chăng có quan hệ với loại tác dụng này?. (Văn kiện nghiên cứu Trung dược, NXB Khoa học 1965, trang 265).
- Tác dụng kháng viêm: Nước chiết xuất Đương quy giảm thấp tính thẩm thấu của huyết quản, ức chế các chất gây viêm của tiểu cầu như 5TH phóng ra (Trung Dược Học).
- Tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản và giảm cơn hen suyễn bình suyễn.
- Đương quy có tác dụng bảo vệ gan, phòng ngừa Glycogen gan giảm thấp (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
- Đương quy có tác dụng nhuận trường, thông tiện (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
- Đương quy có tác dụng làm tăng chức năng miễn dịch không đặc hiệu của cơ thể, tăng khả năng thực bào của đại thực bào, thúc đẩy sự chuyển dạng Lympho bào. Tuy nhiên có tác giả cho rằng Đương quy có tác dụng ức chế miễn dịch (Trung Dược Học).
- Tác dụng lợi tiểu: Do thành phần đường mía trong Đương quy: Cao nước thô của Đương quy có tác dụng hưng phấn đối với cơ trơn ruột non và bàng quang của súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học). Tác dụng kháng khuẩn: Năm 1950, Lưu Quốc Thanh báo cáo nước sắc Đương quy có tác dụng ức chế các loại trực khuẩn Coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phẩy khuẩn thổ tả, trực khuẩn bạch hầu, liên cầu khuẩn tán huyết. Tinh dầu Đương quy có tác dụng ức chế tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn Coli, trực khuẩn lỵ Flexner, trực khuẩn mủ xanh (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, tính ấm (Bản Kinh).
- Vị cay, rất ấm, không độc (Biệt Lục).
- Vị cay, ấm, không độc (Bản Thảo Thuật).
- “Thần Nông, Hoàng Đế, Tang Quân, Biển Thước cho là vị ngọt, không độc – Kỳ Bá, Lôi Công cho là vị cay, không độc – Lý Thị cho là hơi ấm” (Ngô Phổ Bản Thảo).
- Vị ngọt, cay, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển).
QUY KINH:
- Vào kinh thủ thiếu âm Tâm, Túc thái âm Tỳ, Túc quyết âm Can (Thang Dịch Bản Thảo).
- Vào kinh Tâm, Can và Phế (Lôi Công Bào Chích Luận).
- Vào kinh Can,Tâm và Tỳ (Trung Dược Đại Từ Điển).
ĐỊA LÝ:
Đương quy được trồng nhiều ở các huyện Dân, Vũ Độ, Vũ Sơn, Huyên Văn, Tây Lễ, trong đó huyện Dân có sản lượng và chất lượng tốt nhất. Các tỉnh Thiểm tây, Tứ xuyên cũng có trồng. Vị Đương quy hiện vẫn còn phải nhập từ Trung Quốc và Hàn Quốc, tuy đã được du nhập và di thực trồng ở Sapa (Hoàng liên sơn) nhưng chưa đạt kết quả. Thường mọc ở độ cao 2000 – 3000 mét so với nước biển, ưa đất pha cát.
THU HOẠCH:
Thời gian thu hoạch là sau tiết Sương giáng 3–5 ngày, hoặc vào mùa Thu, thu hoạch quá sớm, sản lượng sẽ giảm, chất lượng không đạt. Nếu để quá muộn mới thu hoạch thì đất cứng lại, rễ dễ bị trầy xát, gây thiệt hại.
SƠ CHẾ:
Sau ngày Bạch lộ thì cắt phần thân cây trên mặt đất đi, cắt cao hơn mặt đất 3cm để sau này dễ đào. Sau khi đào lên, để nơi thoáng gió mấy ngày rồi bó 2–5 cây thành 1 bó. Không nên phơi ở nơi râm mát vì vỏ sẽ bị xù xì, biến thành mầu xanh. Nếu phơi nắng thì vỏ sẽ biến thành mầu đỏ, dầu chảy ra, ảnh hưởng đến chất lượng thuốc. Thường làm giàn tre cao khoảng 1,3–1,7m, xếp Đương quy lên: 1 lớp nằm để nằm, 1 lớp đứng, rồi để nằm ngang mấy lớp, tất cả dầy khoảng 30–50cm. Sao đó lấy cây Đậu, Bạch dương và củi cây liễu đốt, xông lên. Không được xông trực tiếp mà chỉ để cho khói nong nóng lên giàn (làm như vậy Đương quy sẽ lên mầu đẹp). Sau khi vỏ rễ đã trở thành mầu đỏ tươi hoặc mầu vàng kim tuyến (cần xông như vậy khoảng 15 ngày), lại dùng than để sấy (lúc sấy không được nóng quá cũng không được để lửa sấy gián đoạn). Sau khi đã khô được 8/10 thì bớt lửa đi, để thuốc tự khô.Trong cả quá trình sấy như vậy cần khoảng 80–90 ngày thì mới được thành phẩm hoàn toàn.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Dùng rễ (Radix Angelicae Sinensis) của cây đã trồng được 3 năm.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Rễ khô chia làm 2 phần: đầu và rễ, toàn bộ dài chừng 15 – 22cm, đầu phình lớn, thô, khoảng 21 – 32cm, ở đầu hơi hỏm xuống, chính giữa có gốc vết của thân, lá, chung quanh có những vòng quanh dầy, nhỏ. Gần vùng rễ có nhiều vết nhăn, mặt ngoài mầu vàng nâu hoặc nâu tro, ở đầu rễ chất cứng dòn, dễ cắt. Rễ trụ thô mà ngắn, phần dưới có nhiều rễ con làm thành như đuôi ngựa. Rễ nhánh thô khoảng 9mm, nhỏ, dài, quăn queo, mầu nâu vàng, có vết nhăn không quy tắc, chất mềm dẻo, khó bẻ. Lớp mặt vỏ cắt ngang tương đối dầy, từ chính giữa có dạng vết lan tỏa ra ngoài. Rễ mùi thơm đậm, vị ngọt, hơi đắng, sau cay là loại tốt (Dược Tài Học).
TÊN GỌI:
Vị này có công năng điều khí dưỡng huyết, làm cho khí huyết đi bậy trở về vị trí chức năng của nó nên gọi Đương quy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
BÀO CHẾ:
- Rễ ủ mềm, phơi qua cho ướt đều cả trong và ngoài, thái phiến, phơi khô. Nếu ngâm rượu thì cứ 100kg Đương quy thì dùng 10 lít rượu, cho vào chảo, đun nhẹ lửa, sao qua (Trung Dược Đại Từ Điển).
- Bỏ phần cuối rễ đi rồi lấy rượu ngâm 1 đêm (Lôi Công Bào Chích Luận).
- Lấy rượu rửa sạch đất bụi. Trị bệnh ở phần trên: ngâm với rượu. Trị bệnh ở ngoài thì rửa qua rượu hoặc sấy lửa hoặc phơi nắng cho khô mới cho vào thuốc (Trân Châu Nang).
- Rửa qua rễ bằng rượu (nếu không có rượu thì rửa nhanh bằng nước sau đó vẩy cho ráo) ủ 1 đêm cho mềm, bào mỏng 1mm. Nếu muốn để được lâu thì rửa bằng nước và muối, sau đo phải sấy nhẹ qua Lưu huỳnh (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
BẢO QUẢN:
Cần để nơi khô, ráo, thoáng gió. Tránh ẩm nóng làm hỏng mất tinh dầu thơm. Phơi nắng, lúc củ đang còn nóng, lấy giấy gói lại, cho vào hũ để cất giữ thì sẽ không sợ sâu ăn (Bản Thảo Cương Mục).
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị lưng đau do khí huyết ứ trệ kiêm hư hàn: Đương quy 40g, Thịt dê (dương nhục) 200g, Sinh khương 20g, chưng cách thủy hoặc sắc uống ấm (Đương quy sinh khương dương nhục thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
- Trị lưng đau do khí huyết ứ trệ kiêm hư hàn: Đương quy 16g, Quế chi 8g, Bạch thược 16g, Cam thảo phấn 10g, Sinh khương 4g, Hồng táo 20g, Đường phèn 40g, sắc uống (Đương quy kiến trung thang - Thiên Kim Dực Phương).
- Điều khí dưỡng vệ, tư dưỡng khí huyết, trị mạch Xung, Nhâm bị hư tổn, kinh nguyệt không đều, vùng bụng rốn đều đau, băng trung, lậu hạ, huyết trưng, có thai mà bị lạnh, thai động không yên, máu ra không cầm, sinh xong bị hư thoát, phong hàn nội chuyển, ác lộ (máu dơ) không ra gây nên tích tụ, bụng dưới cứng đau sinh ra nóng lạnh: Đương quy (tẩm rượu, sao), Xuyên khung, Bạch thược, Thục can địa hoàng (chưng rượu), lượng bằng nhau. Tán bột, trộn đều. Mỗi lần dùng 12g, sắc uống nóng (Tứ vật thang - Hòa Tễ Cục phương).
- Trị phụ nữ bị đái hạ ngũ sắc, bụng đau, trưng hà, ăn ít: Đương quy 40g (sao sơ), Miết giáp 40g (nướng dầm hơi vàng), Đại hoàng 40g (sao sơ), Bạch truật 1,2g, Hồ tiêu 20g, Khách hàng lê lặc bì 1,2g, Tân lang 1,2g, Chỉ xác 1,2g (sao hơi vàng), Tất bát 20g. Tán bột, trộn mật làm. Ngày uống 8–12g (Đương quy hoàn – Thánh Huệ phương).
- Trị con gái kinh nguyệt không đều: Đương quy 40g, Can tất (sao cho bốc khói), Khung cùng đều 20g. Tán bột, luyện mật làm hoàn, ngày uống 8-12g với rượu ấm (Đương quy hoàn – Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị huyết lỵ, trong ruột đau: Đương quy 1,2g (sao sơ), Hoàng liên 40g (sao sơ), Long cốt 80g. Tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước cháo (Đương quy tán – Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị táo bón: Đương quy, Bạch chỉ. Lượng bằng nhau. Mỗi lần dùng 8g với nước gạo (Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị phụ nữ có thai mà thai động không yên, bụng và lưng đau: Đương quy 20g, Thông bạch 0,4g. Sắc uống (An thai ẩm – Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị kinh nguyệt đi ngược lên khiến cho huyết ra đường miệng, mũi: Trước tiên lấy mực tầu (đen – mát), mài ra lấy nước cho uống sau đó dùng Quy vĩ, Hồng hoa đều 12g, sắc uống nóng (Dị Giản phương).
- Trị huyết băng: Đương quy 40g, Long cốt 80g (sao cho đỏ lên), Hương phụ tử (sao) 12g, Tông mao khôi 20g. Tán bột. Mỗi lần dùng 12–16g uống với nước cơm, lúc đói (Đương quy tán – Nho Môn Sự Thân).
- Trị huyết trưng, bụng trướng, mạch Sáp: Đương quy 120g, Quế tâm 60g, Bạch thược (sao rượu) 60g, Bồ hoàng (sao) 80g, Huyết kiệt 120g, Diên hồ sách 20g. Tán bột. Mỗi lần dùng 12g, sắc với rượu, uống ấm (Đương quy bồ diên tán – Y Lược Lục Thư).
- Trị táo bón do khí bị hư: Đương quy 16g, Ngưu tất 12g, Nhục thung dung 12g, Trạch tả 12g, Thăng ma 4g, Chỉ xác 6g (Tế xuyên tiễn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
- Trị mồ hôi trộm: Đương quy, Sinh địa, Thục địa, Hoàng bá, Hoàng cầm, Hoàng liên. Lượng bằng nhau, Hoàng kỳ lượng gấp đôi. Tán bột. Mỗi lần dùng 20g, sắc uống (Đương quy lục hoàng thang – Lan Thất Bí Tàng).
- Trị các chứng nhọt sưng: Đương quy, Hoàng kỳ, Quát lâu, Mộc hương, Hoàng liên. Lượng bằng nhau. Mỗi lần dùng 40g, sắc uống (Đương quy tán – Tố Vấn Cơ Khí Nghi Bảo Mệnh Tập).
- Trị tâm huyết hư, hồi hộp, hay quên, mất ngủ, tâm phiền, bứt rứt: Đương quy 8g, Hoàng kỳ 40g, sắc uống (Đương quy bổ huyết thang – Nội Ngoại Thương Biện Hoặc Luận).
- Trị hen suyễn: Đương quy 8g, Thục địa 16–20g, Trần bì 12g, Bán hạ (khương) 8–12g, Bạch linh 12g, Chích thảo 6g, Sinh khương 3 lát. Sắc uống (Kim thủy lục quân tiễn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
- Trị tâm huyết hư, hồi hộp, hay quên, mất ngủ, tâm phiền, bứt rứt: Quy thân 12g, Sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Sinh địa 8g, Kỷ tử 16g, Xuyên luyện tử 6g, sắc uống (Nhất quán tiễn – Liễu Châu Y Thoại).
- Trị chứng phụ cốt ung, các loại nhọt độc: Đương quy 20g, Cam thảo 40g, Sơn chi tử 12 hột, Mộc miết tử 1 hột (bỏ vỏ). Tán bột. Mỗi lần dùng 12g, uống với rượu lạnh (Đương quy tán – Kỳ Hiệu Lương phương).
- Trị ra mồ hôi trộm, mất ngủ, ăn ít, hơi thở ngắn: Đương quy (rửa rượu) 20g, Thục địa (chưng) 12g, Liên nhục (sao) 12g, Bạch thược (sao mật) 12g, Nhân sâm (sao) 8g, Phục thần 6g, Đan sâm (rửa rượu) 4g, Đan bì (sao rượu) 4g, A giao (sao phồng) 4g, Cao quy bản 10g, Ngũ vị tử (sao mật) 15 hột, sắc uống (Thống tàng phương – Hiệu Phỏng Tân Phương).
- Trị gầy yếu, sốt về chiều, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, thiếu máu: Đương quy 20g, Thục địa 40g, Nhân sâm 12g, Đan sâm 8g, Viễn chí 4g, Táo nhân (sao đen) 4g, Táo và Gừng, sắc uống (Hậu thiên lục vị phương – Hiệu Phỏng Tân Phương).
- Trị ung nhọt lâu ngày, ung thư, thoát thư, động mạch viêm tắc: Đương quy 12g, Huyền sâm 16g, Kim ngân hoa 16g, Cam thảo 6g, (Tứ Diệu Dũng An Thang Nghiệm Phương Tân Biên) thêm Bồ công anh 16g, Đan sâm 12g, Xích tiểu đậu 12g, Xuyên sơn giáp 16g, Địa long 12g. Nếu bị thoát thư, ứ huyết nặng, thêm Hồng hoa 10g, Đào nhân 12g. Khí hư thêm Hoàng kỳ 16g, Đảng sâm 12g (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị táo bón do khí bị hư: Đương quy 20g, sắc với 40g dầu mè, uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị chân tay có huyết ứ do té ngã, chấn thương, phần mềm sưng đau, động mạch viêm tắc: Đương quy 12g, Đan sâm 20g, Một dược 6g, Nhũ hương 6g. Sắc uống (Hoạt lạc hiệu linh đơn – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị hen suyễn: Mỗi ngày uống 9–12g Đương quy cao, chia làm 3 lần. 10 ngày là 1 liệu trình. Đã theo dõi kết quả 24 trường hợp phế khí thũng, 26 trường hợp phế khí thũng có biến chứng tâm phế mạn. Sau 5–6 liệu trình có kết quả tốt: lượng thông khí được cải thiện rõ, hết hoặc giảm ho đờm rõ ('Quan Sát Đương Quy Trị Phế Khí Thủng Và Phế Khí Thủng Có Biến Chứng Tâm Phế Mạn', Phạm Huyện, Hà Nam Trung Y Học Viện Học Báo 1978, 2: 31).
- Trị nửa đầu đau: Mỗi lần uống 100mg Đương quy tố, ngày 3 lần. Đã theo dõi 35 trường hợp, có kết quả 82,9% ('Theo Dõi Kết Quả Điều Trị Nửa Đầu Đau Bằng Uống Đương Quy Tố', Đường Vạn Nghi và cộng sự, Bắc kinh Y Học Học Báo 1988, 2: 95).
- Trị rối loạn nhịp tim: Dùng dung dịch Đương quy 25–50%, 60–120ml tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch hoặc truyền nhỏ giọt ngày 1 lần hoặc dùng uống dạng sirô Đương quy 150%, 20ml x 3 lần/ ngày. 15 ngày là 1 liệu trình. Đã trị 100 trường hợp rối loạn nhịp tim trong đó có 70 trường hợp rối loạn nhịp thất, có kết quả 36 trường hợp; bệnh mạch vành loạn nhịp thất 30 trường hợp, có kết quả 25 (tỉ lệ kết quả 83,3%); trị 3 trường hợp rung nhĩ, kết quả rõ là 1 trường hợp ('Sơ Bộ Quan Sát 100 Trường Hợp Rối Loạn Nhịp Tim Điều Trị Bằng Đương Quy', Tưởng Tích Gia và cộng sự, Trung Y Tạp Chí 1981, 7: 54).
- Trị động mạch xơ cứng: dùng dung dịch tiêm Phức Phương Đương Quy 40ml (mỗi 100ml có 10g Đương quy, 10g Xuyên khung, 8g Hồng hoa) cho vào 60ml dung dịch muối sinh lý truyền tĩnh mạch, 40–60 giọt/phút, ngày 1 lần hoặc mỗi ngày tiêm bắp 4ml (mỗi 10ml có Đương quy 2,5g, Xuyên khung 2,5g, Hồng hoa 5g), ngày 1 lần, 25 lần là 1 liệu trình. Đã trị 52 trường hợp, trong đó truyền tĩnh mạch 33 trường hợp. Kết quả rõ: 13, tiến bộ: 19; tỉ lệ kết quả: 84,2% (Khoa Thần Kinh Tổng Y Viện Quân Khu Thẩm Dương: 'Sơ Bộ Nhận Xét 52 Trường Hợp Mạch Não Xơ Cứng Điều Trị Bằng 'Phức Phương Đương Quy', Tân Trung Y Tạp Chí 1977, 1: 23).
- Trị nửa đầu đau: Theo dõi điều trị 35 trường hợp, mỗi ngày cho uống 100mg Đương quy tố, ngày 3 lần. Kết quả 82,9%. ('Theo Dõi Kết Quả Điều Trị Nửa Đầu Đau Bằng Uống Đương Quy Tố', Đường Vạn Nghi và cộng sự, Bắc Kinh Y Học Học Báo 1988, 2: 95).
- Trị lưng đùi đau: Tiêm dịch Đương quy và Xuyên khung (1 số ít tiêm bắp hoặc TRANG 10 tiêm vào huyệt), hàng ngày hoặc cách nhật, 10 ngày là 1 liệu trình, có kết quả thì dùng tiếp, không kết quả thì ngưng dùng. Đã trị hơn 1.000 trường hợp (có đầy đủ tư liệu: 337 trường hợp), khỏi: 215, có tiến bộ: 112, không kết quả: 10. Tỉ lệ kết quả: 97% (Chu Dụng Hào, Phép Hoạt Huyết Hóa Ứ Trị Lưng Đùi Đau – Tân Trung Y Tạp Chí 1980, 2: 34).
- Trị thống kinh: Cho uống 'Đương Quy Tinh Dầu Hoàn' (mỗi hoàn 50mg), ngày 3 lần, liên tục 15–20 ngày. Theo dõi 112 trường hợp, tỉ lệ hết đau: 76,79% (Cao Anh Mẫn và cộng sự, 'Theo Dõi 112 Trường Hợp Trị Thống Kinh Bằng Hoàn Tinh Dầu Đương Quy ' (Lan Châu Y Viện Học Báo 1988, 1: 36).
- Trị tử cung sa: Dùng 50% dung dịch tiêm Đương quy (1ml có 9,5 thuốc sống) mỗi ngày tiêm 2ml vào 1 bên huyệt Tam âm giao (Tỳ 6) và Túc tam lý (Vị 36), (hoặc 2 bên giao nhau, cách nhật), 1 lần. Liệu trình đối với độ I là 7 ngày, độ II: 14 ngày, độ III: 21 ngày. Đã trị 67 trường hợp, khỏi: 27, có kết quả: 34, không kết quả: 06. Tỉ lệ có kết quả: 90%. (Lý Cửu Cao, 'Chế Dịch Đương Quy 50% Trị Tử Cung Thoát Thùy', Thông Báo Dược Học 1979, 7: 310).
- Trị mất ngủ: Dùng dịch tiêm Đương quy 4ml (mỗi ống 2,5ml Đương quy), tiêm huyệt An miên 2 bên, mỗi bên 2ml, mỗi ngày hoặc cách nhật, 10 lần là 1 liệu trình. Theo dõi 50 trường hợp, sau 1 liệu trình, khỏi: 12, có kết quả 32, không kết quả: 6. Tỉ lệ kết quả chung là 88%.(Vương Ninh Sinh, Thủy Châm Dịch Đương Quy Trị Mất Ngủ, Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1983, 5: 319).
- Trị đái dầm: Dùng 5% dịch tiêm Đương quy, thủy châm các huyệt Thận du (B.quang 23), Bàng quang du (Bq. 28), Đại trường du (Bq. 25), Quan nguyên (Nhâm 4), Trung cực (Nhâm 3), Tam âm giao (Tỳ 6), Di niệu huyệt (của Thủ châm ở giữa nếp lằn ngang đốt 1–2 ngón tay út), mỗi lần chọn 3–4 huyệt, mỗi huyệt tiêm khoảng 0,5–1ml, ngày 1 lần, tiêm 1 tuần không kết quả thì ngưng tiêm. Đã trị 87 trường hợp, theo dõi trên 2 năm. Kết quả 1 lần tiêm: khỏi 28; 2–5 lần: khỏi 34; tiến bộ rõ:11; không theo dõi được: 9 (Thang Truyền Quân,'Đương Quy Thủy Châm Trị Đái Dầm', Xích Y Tạp Chí 1977, 4: 21).
- Trị động mạch viêm tắc: Dùng 10% dịch tiêm tĩnh mạch Đương quy hoặc 25% dịch tiêm tĩnh mạch Đương quy 80-100ml, bệnh nặng tăng thêm liều, tiêm hoặc truyền tịnh mạch với dịch 10% 10–20ml, với 25% 5–10ml tiêm vào điểm nhậy cảm hoặc tiết đoạn thần kinh. Mỗi ngày 1 lần, 1 tuần 6 lần, 4 tuần là 1 liệu trình. Đã trị 52 trường hợp, kết quả 88,5%, có tác dụng giảm đau, tăng tuần hoàn máu, tăng nhiệt độ ở da, chống phát sinh và phát triển hoại tử, tăng nhanh lành vết loét (Tổ Đương Quy, Khoa Ngoại Bệnh Viện Số 2 Viện Y Học Hà Bắc, 'Quan Sát Hiệu Quả Lâm Sàng Của Dịch Tiêm Đương Quy Đối Với Động Mạch Viêm Tắc', Tân Y Dược Học Tạp Chí 1977).
- Trị xoang mũi viêm mạn: Sau khi dùng cồn vô trùng da mũi, dùng 5% dịch Đương quy đã tiệt khuẩn (pH5) 1ml thêm 1 ít Procain 0,5%, dùng kim nhỏ số 4 1/2 tiêm vào 2 huyệt Nghinh hương (Đtr. 20), mỗi bên 0,5ml ngày 1 lần, 7 lần là 1 liệu trình. Đã trị 32 trường hợp trong đó có 4 trường hợp mũi viêm dị ứng đều khỏi; mũi viêm đơn thuần 17 trường hợp, khỏi 13, kết quả rõ: 2, giảm nhẹ: 2 ; mũi viêm phì đại 11 trường hợp, khỏi: 6, kết quả rõ: 1, giảm: 3, không kết quả: 1 (Khoa Tai Mũi Họng Bệnh Viện Nhân Dân Số 4 Thành Phố Cát Lâm: 'Giới Thiệu Dịch Đương Quy Thủy Châm Điều Trị Mũi Viêm Mạn', Tân Y Dược Học Tạp Chí 1974, 9: 17). Trị chứng trọc đầu: Dùng Đương quy, Bá tử nhân mỗi thứ 500g, tán bột, luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu, ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g, sau bữa ăn. Đã trị hơn 40 trường hợp, kết quả tốt (Tiết Duy Chấn: 'Điều Trị Trọc Đầu Bằng Trung Dược', Thiểm Tây Trung Y Tạp Chí, 1987, 9: 419).
CHỦ TRỊ TÁC DỤNG:
- Ôn tý, chỉ thống, trừ khách huyết nội bí, bổ ngũ tạng, sinh cơ nhục (Biệt Lục).
- Chỉ ẩu nghịch, hư lao, hàn nhiệt, phá ứ huyết, bổ bất túc (Dược Tính Luận).
- Phá ác huyết, dưỡng tân huyết (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Quy đầu: phá huyết, Quy thân: hành huyết, Quy vĩ: chỉ huyết (Trân Châu Nang).
- Quy đầu: chỉ huyết, Quy thân: hòa huyết, Quy tiêm (đầu nhọn): phá huyết (Thang Dịch Bản Thảo).
- Bổ huyết, hòa huyết, điều kinh, chỉ thống, nhuận táo, hoạt trường (Trung Dược Đại Từ Điển).
CHỦ TRỊ:
- Trị nôn nghịch, ôn ngược, phụ nữ bị lậu hạ, các chứng mụn nhọt, ghẻ lở (Bản Kinh).
- Trị phụ nữ bị băng trung, trường vị bị lạnh, bổ cho các loại bất túc, ôn ngược, răng đau (Biệt Lục).
- Trị đầu đau, ngực và bụng đau, nhuận trường vị, gân cốt, bì phu, ung thư (Bản Thảo Cương Mục).
- Trị tất cả các chứng phong, chứng huyết, bổ tất cả các chứng lao (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Trị kinh nguyệt không đều, kinh bế, bụng đau, trưng hà, tích tụ, băng lậu, huyết hư, đầu đau, chóng mặt, liệt yếu, phong thấp, táo bón, xích lỵ, ung thư ghẻ lở, bị té ngã tổn thương (Trung Dược Đại Từ Điển).
LIỀU DÙNG: 6 – 20g.
KIÊNG KỴ:
- Trường vị hư yếu, tiêu chảy, bệnh ở Tỳ Vị: không muốn ăn, ăn không tiêu: TRANG 12 kiêng dùng (Thang Dịch Bản Thảo).
- Sợ lạnh, phát sốt, có dấu hiệu biểu chứng: không dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).
- Sợ vị Xương bồ, Hải tảo, Mẫu mông (Bản Thảo Kinh Tập Chú). Thấp trở, trung mãn hoặc tiêu chảy nhiều: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
THAM KHẢO
- “Đương quy... tác dụng dẫn huyết về các kinh sở quy của nó vì vậy gọi là Đương quy” (Bản Thảo Đồ Giải).
- Đương quy vị cay, tính rất ấm, không độc, vị ngọt làm hòa hoãn, vị cay làm tán ra, làm nhuận, vị ấm làm thông sướng. Đi vào kinh thủ thiếu âm (Tâm), túc quyết âm (Can) vào cả túc thái âm (Tỳ), là thuốc chủ yếu về hoạt huyết, bổ huyết, vì vậy, trị được chứng ho, khí nghịch. Chứng ôn ngược nóng rét khó chịu ở bì phu là do tà khí ở kinh quyết âm. Hành huyết thì tà khí nơi kinh quyết âm tự giải, do đó, nóng rét từng cơn cũng theo đó mà khỏi. Phụ nữ lấy huyết làm chủ, chứng băng lậu, đái hạ, không có con là do huyết khô. Các chứng ung nhọt độc, nếu đã vỡ mủ thì thì ôn bổ để trừ ủng tắc bên trong, bổ huyết thì sinh da non. Chứng tổn thương do kim khí (dao búa) lấy hoạt huyết, bổ huyết làm chính, chứng phong đòn gánh (phá thương phong) cũng vậy, sắc lấy nước uống. Chứng nội hư thì bên trong bị hàn, vị ngọt ấm thì ích huyết vì vậy có khả năng ôn trung. Huyết ngừng thì sinh đau, hoạt huyết thì đau tự khỏi. Huyết tràn ra ngoài màng hoặc ở trong đường ruột gọi là Khách huyết, được ấm được cay thì khách huyết tự tán ra. Tắc nghẽn bên trong là công hiệu bổ huyết của vị ngọt ấm. Trúng phong co cứng (kính chứng), mồ hôi không ra là do phong tà thừa hư khiến huyết tràn ra ngoài, khí được cay ấm thì huyết hành, huyết hòa, vì vậy, chứng co cứng tự mềm ra mà mồ hôi ra được. Chứng tý (tê) là do phần huyết bị bị tà khí xâm lấn gây ra co rút, đau. Phong, hàn, thấp 3 loại tà khí hợp lại thành chứng tý, huyết hành thì tà khí không đến chiếm đóng được, vì vậy, chứng tý tự khỏi. Nội hư trúng hàn là do thình lình trúng phải tà khí. Khách khí là hàn khí đến từ bên ngoài, ôn trung thì hàn khí tự giải tán.Hư lãnh là nội hư, huyết không dinh dưỡng phần cơ bắp gây nên lạnh vậy, bổ ngũ tạng, sinh cơ nhục là bởi tạng thuộc âm, âm là huyết, âm khí đầy đủ thì dinh huyết thịnh vượng mà cơ nhục trường vậy. Người bị hư lãnh phải dùng (Đương quy) liều cao hơn (Bản Thảo Kinh Sơ). • Đương quy vị cay thơm mà nhuận, vị thơm thì vào Tỳ, nhuận thì bổ huyết vì vậy vào được trung tiêu, phần dinh khí là thánh dược bổ cho phần dinh. Lại rằng Đương quy là vị thuốc dùng của bệnh thuộc huyết mà trong sách Bản Kinh không hề có 1 chữ đề cập đến bổ huyết, dưỡng huyết là vì sao? Vì khí không hình mà sinh 1 cách nhanh chóng, huyết hữu hình khó tăng trưởng thành nhanh. Phàm (điều gì) làm thông điều bế tắc, thuận khí, hòa âm, thanh hỏa, giáng nghịch, sinh tân, khư phong, lợi khiếu, tất cả thuốc có tác dụng tư nhuận, thông lợi đề có thể làm cho âm khí lưu thông, không làm cho dương hừng lên mà gây bệnh, đó chính là sinh huyết vậy. Đương quy vị cay, thơm, tính ấm, nhuận lại kiêm có các sở trường trên, thật là thuốc chủ yếu để dưỡng huyết. Nhưng công hiệu xung huyết của nó thì việc điều dưỡng của huyết không cần nói ra cũng đủ biết, đấy là phải tham khảo rõ sách Bản Kinh mà hiểu ra lý lẽ của nó vậy (Bản Thảo Bách Chủng Lục).
- Đương quy tính ấm, có khả năng phát tán, vị ngọt có khả năng hòa hoãn. Sách Nội Kinh ghi: Can thích phát tán mà dùng vị cay để phát tán, Can không thích cấp (gấp rút), dùng vị ngọt để hòa hoãn; hòa hoãn, phát tán là sở thích của tạng Can, có nghĩa là bổ, chuyên vào tạng Can để trợ giúp cho huyết hải, làm cho huyết lưu thông. Phàm bản chất tính của thuốc chia ra: Rễ thì làm cho thăng lên, tiêu(phần đuôi) làm cho giáng xuống, phần trung thì thủ (giữ lấy). Chỉ có vị thuốc này (Đương quy) là gồm đầy đủ: đầu thì bổ huyết, đi lên, thân thì dưỡng huyết, giữ phần trung châu, tiêu (vĩ) thì phá huyết và đi xuống. Toàn Quy thì hoạt huyết, vận hành khắp cơ thể. Trị huyết hư, bất túc, tinh khí bị hao, âm hư, lao nhọc, mất máu quá nhiều,sau khi bị ung nhọt lở loét... đều là huyết thoát, dùng Quy đầu để bổ huyết. Trị tinh thần mỏi mệt, lưng đau, gối mỏi, phụ nữ rong kinh, mắt đau, răng đau, sốt rét lâu ngày, kiết lỵ ra máu, đều là bởi huyết ít, hư, dùng Quy thân để dưỡng huyết vậy. Trị các chứng dộc, sưng, té ngã tổn thương, ghẻ ngứa,, tê thấp, kinh bế, huyết ứ, huyết súc, đều do huyết bị tụ lại, dùng Quy vĩ để phá huyết. Nếu Toàn Quy dùng trị huyết hư, huyết chạy bậy thì yên ngay, nó có công dẫn khí huyết về kinh lạc, vì vậy có tên là Đương quy. Với khí thơm tho, tính nhuận của Đương quy, dùng chung với Sâm, Bạch truật thì có tác dụng tư dưỡng Tỳ âm, nếu Tỳ hư thì sao với gạo, làm cho không sợ bị tiêu chảy (Biện Dược Chỉ Nam).
- Đương quy vị cay, tính ấm, nhuận, các sách ghi là vị thuốc tốt nhất vào Tâm, sinh huyết, chạy dọc theo các mạch là huyết phủ. Các mạch đều thuộc về Tâm, Tâm không có huyết dưỡng thì mạch không thông, huyết không có khí trợ thì huyết không hành. Đương quy khí vị cay ấm, không lo sợ nó quá phát tán cũng không lo nó qua hòa hoãn, được sự ôn trung, nhuận của nó, là vị thuốc dương trong âm vì vậy có khả năng thông Tâm, sinh huyết, la loại thuốc khí trương âm. Do đó, tất cả các chứng âm huyết hư, dương không có chỗ dựa mà thấy các chứng huyết khô, huyết táo, huyết thoát, huyết bế... nên dùng thuốc này làm chính để trị. Theo ghi nhận thì Quy đầu có tác dụng cầm máu, dẫn huyết đi lên; Quy thân thì dưỡng huyết, giữ phần giữa; Quy vĩ thì phá huyết, dẫn huyết đi xuống. Cổ phương dùng Đương quy hợp với Bạch thược, Khung cùng, Địa hoàng dùng chung gọi là tổng tễ Tứ vật thang vì: Kết hợp với Xuyên khung được dịp trưởng dưỡng sinh phát. Hợp với Địa hoàng được nguồn tự hóa, tư dưỡng. * Hợp với Bạch thược được gốc của âm liễm dương.
- Như vậy thì huyết mới tư sinh được. Nếu như huyết hư mà khí không cố giữ được thì nên trợ thêm Nhân sâm, Hoàng kỳ. Huyết nhiệt thì trợ thêm Điều cầm, Hoàng liên, Huyết tích tụ thì trợ thêm Sài cát, Thăng ma, Quế. Phần Vệ nhiệt mà biểu không liễm thì trợ bằng Đại hoàng...thùy theo bệnh mà gia giảm dùng. Muốn làm cho huyết trệ được thông, huyết hư được bổ, huyết khô được nhuận, huyết loạn được thuận, khiến huyết với khí trợ cho nhau, khí với huyết củng cố nhau mà không dẫn đến tán loạn không chỗ về. Sách gọi tên nó là Quy, nghĩa là ý này. Khí nghịch mà thấy ho thì nên dùng Đương quy để hòa huyết, huyết hòa mà khí giáng vậy. Chứng hàn uất mà thấy ngược (sốt rét), lỵ, thắt lưng đau, đầu đau, bụng đau thì nên dùng Đương quy để tán hàn. Hàn tán đi thì huyết tự hòa vậy. Chứng huyết hư mà có phong tà, không ra mồ hôi, nên dùng Đương quy để dưỡng huyết thì phong tự giải vậy. Ngoài ra, ung nhọt, lở loét mà thấy đau khác thường, cơ bắp mất dinh dưỡng mà da không nhuận, đồng thời mạch Xung bị bệnh mà thấy khí nghịch, phần lý cấp, mạch Đới bị bụng đau, thắt lưng đau như ngồi trong chậu nước... cũng đều lấy ý là huyết hư không có chỗ nương tựa. Khi được Đương quy thì mủ rút, đau giảm, nhọt tiêu, độc bị khử, da bóng mượt, không còn những bệnh khô héo mất dinh dưỡng vậy. Nhưng Đương quy vị cay, có công dụng phát tán, người khí hư hỏa vượng không nên dùng. Vị ngọt thì ủng trệ, người Tỳ Vị hư hàn nên kiêng dùng. Chất nhuận thì tính hoạt, người bị tiêu chảy nên kiêng dùng, không thể không hiểu rõ mà biện bạch. Còn như sách đã ghi rằng Đương quy vào kinh Tâm lại ghi rằng vào Can và Tỳ, chẳng qua là Đương quy bổ huyết mà Can và Tỳ đều có ý thống lãnh các tạng (Bản Thảo Đồ Giải).
- Đương quy hợp với Xuyên khung, Tế tân làm thuốc dẫn thì trị được đầu đau, mắt đau, răng đau do huyết hư; hợp với huyết dược như Ý dĩ, Ngưu tất thì có thể dẫn thuốc đi xuống để trị bệnh lưng đau, chân bại liệt do huyết không tưới nhuần tới gân; hợp với khí dược như Nhân sâm, Ô dược, Ý dĩ thì có thể tưới nhuần phần biểu để trị thấp độc, gân co rút; Dùng Đương quy làm tá cho Sâm, Kỳ thì bổ khí huyết, hư lao mà cầm mồ hôi, sinh da non. Làm tá cho Thục địa, Bạch thược thì có thể dưỡng huyết, tư âm mà bổ Thận. Dùng với Bạch thược mà giảm đau, trị kiết lỵ. Hợp với Miết giáp, Sài hồ thì chận đứng được nóng lạnh mà trừ chứng sốt rét. Hợp với Trần bì, Bán hạ có thể cầm nôn mửa. Hợp với Viễn chí thì có thể dưỡng Tâm, làm yên được cơn hồi hộp. Đương quy làm tá cho Quế, Phụ thì nóng, ôn trung mà tán hàn. Đương quy làm tá cho Nga truật. Khiên ngưu thì phá huyết mà tiêu chứng trưng, hà. Đương quy cho vào thuốc dưỡng huyết, hòa huyết thì nên sao với rượu; trị phần trên thì tẩm rượu, trị bệnh ở ngoài thì rửa rượu, trị bệnh đờm thì rưới nước Gừng, phơi khô; Trị nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết thì tẩm dấm sao qua, nên dùng ít. Quy đầu hay cầm máu mà đi lên, Quy vĩ hay phá huyết mà đi xuống, Quy thân dưỡng huyết mà cố thủ ở phần giữa. Toàn quy hay hoạt huyết mà chạy. Đương quy là thuốc chủ yếu của huyết phận, cay, ấm mà tán, là khí ở trong huyết dược, vì vậy khi huyết mà loạn uống vào thì yên, có khả năng làm cho tất cả huyết đều trở về kinh mạch đáng lý ra phải về, cho nên mệnh danh là Đương quy” (Dược Phẩm Vậng Yếu).
- Đương quy cay đắng là được vị của Địa hỏa, khí hơi ấm, được tính của Mộc mà chất lại trơn nhuận, được sự ẩm ướt của đất cho nên hoa được chất nước, giúp cho Tâm sinh huyết để lưu hành đến Can. Về công năng sinh huyết, không có thứ thuốc đặc hiệu nào khác có thể sánh được [với Đương quy] – Đương quy dùng đầu, dùng đuôi có chỗ khác biệt: tính của đầu thì đi lên, cho nên chủ sinh huyết, tính của đuôi đi xuống cho nên chủ hành huyết (Bản Thảo Vấn Đáp).
- Đương quy bổ huyết điều kinh ai cũng biết, hễ phụ nữ kinh nguyệt không đều, huyết hư kinh bế, các chứng bệnh trước khi có thai hoặc sau khi sinh đều dùng nó làm thuốc chính yếu, thí dụ như bài Tứ Vật Thang trong sách Cục phương, dùng Đương quy kết hợp với Thục địa, Xuyên khung, Bạch thược, là bài thuốc chủ yếu trong nữ khoa. Đương quy vị ngọt tính ấm, cay thơm, chuyên tẩu tán, ngoại trừ việc bổ huyết ra lại có tác dụng điều khí hoạt huyết. Vì vậy lại có thể trị khí huyết ngưng trệ, bụng đau, hông sườn đau do lạc mạch bất hòa, các chứng chấn thương do té ngã, bị đánh đập và phong thấp. Nói chung các loại đau do khí trệ lâu ngày có thể làm cho lạc mạch ngưng trệ, trong thuốc lý khí, dùng chung với Đương quy thì hiệu quả rất cao. Nếu đau do huyết ứ thì Đương quy có thể dùng chung với thuốc lý huyết. Nếu do huyết hư, lý hàn gây ra bụng đau thì nên dùng chung với thuốc trợ dương. Nếu do phong thấp mà kinh lạc bất hòa có thể dùng chung với thuốc khư phong thấp. Đương quy lại dùng trong chứng táo bón do huyết hư, vì huyết hư thì không thể nhu nhuận, làm cho ruột khô táo gây ra chứng đại tiện táo kết. Đương quy có công hiệu bổ huyết nhuận táo, có khả năng trơn ruột làm thông đại tiện. Chính vì vậy mà hễ bệnh nhân ỉa chảy do Tỳ hư, nên thận trọng khi dùng. Nếu cần thiết thì phải dùng với thuốc kiện Tỳ. Đương quy lại có thể dùng trong chứng kiết lỵ máu mủ, đây là do chứng lỵ phần nhiều do thấp nhiệt tích trệ gây ra, nếu thấy máu mủ thì huyết lạc đã bị tổn thương, trong thuốc thanh thấp nhiệt, hành khí,phá tích thì phải thêm Đương quy, chẳng những hoạt huyết điều khí mà lại còn có tác dụng giảm đau (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Vị thuốc này là vị thuốc quan trọng thường dùng có bệnh huyết, cũng là thuốc khí trong huyết, huyết hư kiêm hàn dùng rất thích hợp. Người xua chia công dụng của Đương quy ra nhiều loại khác nhau. Toàn Đương quy là nói bao trùm của toàn thể, chẳng những có thể hoạt huyết mà còn bổ huyết suốt trên thấu dưới, có thể công, có thể bổ. Đương quy thân là 1 bộ phận trong Đương quy, sức bổ huyết rất mạnh, phần nhiều dùng cho người huyết hư mà không có ứ. Quy vĩ là bộ phận đuôi của Đương quy, giỏi về khứ ứ, phần nhiều dùng cho người huyết hư mà không ngưng kết. Đương quy tu (râu) là bộ phận nhánh bên của củ Đương quy, dùng để thông kinh lạc, sức bổ huyết kém hơn. Du (dầu) Đương quy nhiều chất dịch nhờn, giỏi nhuận trường. Dùng Đương quy khi phân lỏng thì nên sao với đất để bỏ tính trợ thấp của nó, tăng thêm công hiệu bổ huyết. Khi muốn cho thuốc đi lên thì sao với rượu, lấy tính thăng phù và đi đến chỗ đau.” (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Đương quy và Kê huyết đằng đều bổ âm, hoạt huyết, nhưng Đương quy bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết vì vậy Đương quy là yếu dược bổ huyết, còn Kê huyết đằng hoạt huyết mạnh hơn hoạt huyết vì vậy Kê huyết đằng là thuốc tốt cho hành huyết (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê)

