Tang Bạch Bì

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Dược tính luận

Tên khoa học: Cortex mori Albae Radicis.

Họ khoa học: Dâu Tằm (Moraceae).

TÊN KHÁC

Tang căn bạch bì, Chích tang bì, Mã ngạch bì, Sinh tang bì, Phục xà bì, Yếu thực tằm, Duyên niên quyển tuyết (Trung Quốc dược học đại tự điển).

MÔ TẢ

Là vỏ rễ khô đã cạo vỏ ngoài của cây Dâu (Morus alba L). Hình hơi vặn vẹo ngoài, 2 mép cuốn lại thành rãnh dài, ngắn, rộng, hẹp không đều, dầy 0,2 – 0,8cm. Bên ngoài mầu vàng hoặc vàng nhạt, có rất ít những chấm nhỏ mầu vàng nâu hoặc vàng hồng, bên ngoài hơi phẳng, có xơ thưa theo vết xẻ dọc, nhiều chỗ rách dọc, rễ xơ. Thể nhẹ, có nhiều xơ dễ xẻ dọc nhưng khó đứt hẳn ra được. Chiều ngang thì khó bẻ, khi xé ra thì có phấn trắng bay ra. Hơi có mùi vị, vị ngọt, hơi đắng.

DƯỢC LÝ

  • Tang bạch bì có tác dụng giảm ho nhẹ, lợi niệu và gây tiêu chảy (Trung dược học).
  • Thuốc sắc và chiết xuất Tang bạch bì trong nhiều loại dung môi khác nhau đều có tác dụng hạ áp (Trung dược học).
  • Tang bạch bì có tác dụng an thần, giảm đau, hạ nhiệt và chống co giật nhẹ (Trung dược học).
  • Nước sắc Tang bạch bì có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lỵ Flexner và nấm tóc. Thuốc chiết xuất nước nóng có tác dụng ức chế in vitro chủng JTC-28 tế bào ung thư tử cung khoảng 70% (Trung dược học).

TÍNH VỊ:

  • Vị ngọt, tính hàn (Bản Kinh).
  • Vị đắng chua, tính hàn (Y Học Khởi Nguyên).
  • Vị ngọt, hơi hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

  • Vào kinh thủ Thái âm (Thang Dược Bản Thảo).
  • Vào kinh Tỳ Phế (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
  • Vào kinh Phế, Đại trường (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).
  • Vào kinh Phế (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐỊA LÝ:

Trồng hoặc mọc hoang khắp nơi.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Vỏ rễ (cây dâu non), vỏ khô tẩy trắng, dày, dài trên 15cm đã bỏ hết lõi, không mốc, không vụn nát là tốt.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Mùa xuân, mùa thu, bóc lấy rễ, rửa sạch, đập bỏ rễ con, cạo hết lần vỏ mầu vàng ở ngoài, chẻ dọc lá vỏ, bỏ lõi phơi khô là được.

BÀO CHẾ:

Theo Trung Y:

  • Dùng dao đồng cạo hết vỏ vàng xanh, thái nhỏ, sấy khô (Lôi công bào chế dược tính giải).
  • Tẩm mật ong: Lấy sợi đã xắt, cho Mật ong vào, pha thêm nước sôi, trộn đều, ủ cho ngấm thuốc rồi cho vào nồi sao nhỏ lửa cho vàng, sờ không dính tay là được, lấy ra, để nguội (Cứu 50kg Tang bạch bì, dùng 15kg Mật ong).

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

  • Rửa qua, cạo sạch hết vỏ xanh và vàng ngoài, thái mỏng 2 – 3 ly, phơi khô (dùng sống).
  • Sau khi phơi khô, tẩm mật ong sao vàng (1kg vỏ rễ tẩm độ 150g mật đã pha loãng 1/2 với nước) (Phương pháp bào chế đông dược).

BẢO QUẢN:

  • Thứ tẩm mật sao không nên bào chế nhiều và để lâu.
  • Dễ mốc mọt nên cần để nơi khô ráo, thoáng. Nếu chớm mốc mọt có thể sấy hơi diêm sinh.
  • Cạo bỏ vỏ mỏng bên ngoài, lấy phần trắng, đồ cho mềm đều, thái hoặc tước ra hoặc tẩm mật sao lên dùng (Đông dược học thiết yếu).

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị Phế nhiệt, ho, thở gấp: Tang bạch bì, Địa cốt bì, Cam thảo. Tán bột. Cho 100 hột gạo tẻ vào, sắc lấy nước uống thuốc (Tả bạch tán – Tiểu nhi dược chứng trực quyết).
  • Trị ung thư thực quản và bao tử: Tang bạch bì tươi, không bỏ vỏ ngoài, 30g, thêm dấm ăn 100ml, nấu 1 giờ, uống hết một lần hoặc chia làm nhiều lần uống (có thể thêm đường cho bớt chua). Trị 3 ca ung thư thực quản, 2 ca ung thư bao tử. Kết quả, có 4 ca bệnh thuyên giảm (Phúc Kiến Trung Y Dược Tạp Chí 1965, 3: 23).
  • Trị ho do nhiệt đờm: Tang bạch bì, Địa cốt bì đều 12g, Cam thảo 4g. Sắc uống (Tả Bạch Tán – Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết).
  • Trị phế quản viêm mạn: Tang bì, Tỳ bà diệp đều 10g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị cầu thận viêm cấp, phù nhẹ: Tang bì, Trần bì, Sinh khương bì, Đại phúc bì đều 6 –10g, Phục linh bì 12g, sắc uống (Ngũ Bì Ẩm – Phương Tể Học).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Tả Phế, hành thủy, thanh Phế, chỉ khái (Thực Dụng Trung Y Học).
  • Tả Phế hỏa, thông tiểu (Đông Dược Học Thiết Yếu).

KIÊNG KỴ:

  • Nếu trong Phế không có hỏa tà và ho do phong hàn gây ra: không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Phế hư không có hỏa, ho do hàn: không dùng (Thực Dụng Trung Y Học).

LIỀU DÙNG:

3 – 9g.

THAM KHẢO

  • Tang bạch bì là thuốc của kinh Phế. Dùng loại chích có tác dụng tả Phế hỏa, chỉ khái. Dùng sống có tác dụng thanh Phế khí mà lợi thủy. Tang bạch bì và Phục linh bì đều có tác dụng lợi thủy nhưng Tang bạch bì tả Phế, trị thủy ở thượng nguyên còn Phục linh bì đạm thẩm, trị thủy ở phần dưới (Thực Dụng Trung Y Học).
  • Tang chi bì và Tang căn bì đều có tác dụng giáng áp rõ. Tang bì lại có tác dụng lợi niệu rõ (Thực Dụng Trung Y Học).
  • Tang bạch bì đều có tác dụng tả hỏa nhưng Tang bạch bì tả hỏa hữu dư ở trong Phế, Địa cốt bì tả hỏa bất túc ở trong xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).
    Tang bạch bì có thể chế làm chỉ khâu vết thương, thu miệng rất nhanh (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search