- TÊN KHÁC
Bồn sa (Bản Thảo Cương Mục), Nguyệt thạch (Tam Nhân Phương), Bồng sa, Bằng sa (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Nam man sa (Hòa Hán Dược Khảo), Đại minh sa (Đơn Phương Giám Nguyên), Bằng sa, Hàn the, Bồn sa (Việt Nam).
MÔ TẢ
Bằng sa hay Hàn the là tinh thể vị mặn, hơi nồng, để ngoài không khí khô nước dần thành bột trắng. Nếu đun nóng thì chảy ở 107°, sau đó phồng lên mất dần nước để cho chất hèn the nung. Hàn the tan trong Glyxerin, nước nóng ít tan trong nước lạnh, không tan cồn 900. Hàn the là Natri borat hay Tetraborax natri B4O7Na. 10H2O.
DƯỢC LÝ
- Dùng 10% dung dịch Bằng sa thấy có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn Đại trường, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, trực khuẩn lỵ (Shigella), tụ cầu khuẩn. Dùng phương pháp kiểm tra trên giấy cũng chứng minh là thuốc có tác dụng ức chế đối với Phế cầu khuẩn, não mô cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết (Trung Dược Học).
- Bằng sa tính kiềm nhẹ, uống dung dịch Bằng sa có thể phòng nhiễm khuẩn đường tiểu, nhất là lúc nước tiểu có tính acid thuốc có thể chuyển hóa thành kiềm (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Dùng ngoài, thuốc có tác dụng thu liễm, bảo vệ niêm mạc và da (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, hơi mặn, tính mát, không độc (Bản Thảo Cương Mục).
- Vị ngọt, mặn, tính mát (Bản Thảo Tùng Tân).
- Vị ngọt, cay chát, tính mát, (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
QUY KINH:
- Vào kinh Phế (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Vào kinh thủ Thái âm [Phế], túc Dương minh Vị.
- Vào kinh Phế, Vị (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị chảy máu cam không cầm: Bằng sa 3g uống với nước (Giản Tiện Phương).
- Trị ho lâu ngày: Bằng sa, Lỗ sa, Phân con thỏ, các vị bằng nhau, tán bột, trộn với mật ong làm viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 7 viên, dùng 1 phân Cam thảo sống dầm với một chén nước mới múc lên, uống nước cốt uống liên tục từ mùng 1 đến rằm, lúc canh 5, khi uống không được nói gì (Càn Khôn Bí Uẩn Phương).
- Trị lưỡi sưng cứng đờ dùng bột Bằng sa, gừng sống, chấm lên, sát vào (Phổ Tế Phương).
- Trị sưng đau yết hầu: Bằng sa, Bạch mai, 2 vị bằng nhau, tán bột, làm viên to hạt súng, mỗi lần ngậm một viên cho tan (Phá quan đơn – Kinh Nghiệm Phương).
- Trị sưng đau yết hầu: Bằng sa, Nha tiêu, 2 vị bằng nhau, tán bột, trộn mật chừng nửa chỉ thuốc, ngậm nuốt (Trực Chỉ Phương).
- Trị cam ăn răng, sưng cuống họng: Bằng sa tán nhuyễn, thổi, đồng thời xức vào (Tập Giản Phương).
- Trị trẻ con lở âm phần sưng căng: Bằng sa, tán bột trộn nước bôi vào (Tập Huyền Phương).
- Tri ăn uống nhằm vật độc: Bằng sa, Cam thảo đều 120g, Chân hương du 1 cân, ngâm trong bình sứ để dành, gặp khi trúng độc, uống 1 chén nhỏ, ngâm lâu chừng nào tốt chừng ấy, trị các chứng ác sang (Đoan Trúc Đường Kinh Nghiệm Phương).
- Trị thịt dư phồng ra vì rách thịt: Bằng sa (màu vàng) 3g, 1 chút Băng phiến, tán bột, lấy đầu sợi bấc (Đăng thảo) chấm xức vào (Trực Chỉ Phương).
- Trị họng viêm cấp tính, sưng đau lợi răng, sưng tai giữa cấp mãn tính: Băng bằng tán thổi, sát vào nơi đau (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị họng viêm cấp tính, sưng đau lợi răng, sưng tai giữa cấp mãn tính: Bằng sa, Thạch cao sống, Băng phiến, Hàn thủy thạch, Nhân chỉ giáp, các thứ bằng nhau tán bột thồi nơi đau sưng yết hầu (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị hoại tử ở quanh chân răng: Bằng sa 12g, Nhũ hương, Mộc dược mỗi thứ 15g, Hồng táo, Tự phê, Xuyên liên, Cam thảo mỗi thứ 3g, Thạch đại 6g, Băng phiến 3g rưỡi: Đem Băng phiến đâm vụn, lấy tạo nhục bỏ hạt bọc quanh cho đến khi táo chảy thành than, trộn với các vị thuốc trên đây, sau khi rửa miệng bằng oxy già rồi xức thuốc trên (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị nhiệt ủng trệ, ho đờm không thông, ho do đàm hỏa: Bằng sa, Tang bì, Nhi trà, Tô tử, Cam thảo mỗi thứ 30g. Tán bột, trộn với mật làm thành viên, mỗi viên 6g, sáng tối mỗi lần 1 viên (An Phế Định Thần Hoàn – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị bong gân lưng: Dùng Hàn the tán bột, chế thành thuốc nhỏ mắt 3%. Nhỏ vào khóe mắt trong và ngoài, đồng thời vận động lưng. Trị 50 ca, 46 ca chỉ 1 lần là khỏi, sau 1/2 giờ hết đau, 2 ca chuyển biến tốt và 2 ca không khỏi (Chu Chí Đông, Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1986, 11: 37).
- Trị động kinh: Trường hợp ít lên cơn: dùng Bừng sa, mỗi lần uống 0,3g, ngày 3 lần. Nếu lên cơn dầy, mỗi lần 0,5g, ngày 3 lần. Nếu lên cơn lâu hoặc cơn liên tục, mỗi lần uống 1g, ngày 4 lần. Đồng thời uống thuốc an thần (Gardenal). Trị 10 ca đều có kết quả (Phùng Khải Nam, Trung Y Trung Cấp Tạp Chí 1966, 5: 299).
- Trị ban do mồ hôi: Dùng nước dưa vàng (Hoàng qua) trộn với bột Bằng sa cho bão hòa. Lấy nước âm ấm rửa sạch vùng ban rồi bôi nước thuốc lên, ngày 1 lần. Trị 18 ca, khỏi 17, không kết quả 1 (Lưu Hiếu Mẫn, Hà Nam Trung Y Tạp Chí 1985, 4: 30).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG:
- Tiêu đờm, chỉ khái, phá trưng kết hầu tý (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Sát lao trùng (Bản Thảo Thông Huyền).
- Dùng sống có tác dụng trừ thối (khứ hủ), nung lên có tác dụng sinh cơ (Bản Thảo Cầu Nguyên).
- Giải độc, khử đàm, phá tích (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
CHỦ TRỊ:
Trị Nga khẩu sang, sưng biên đào thể, dùng ngoài để thổi vào nơi đau, bỏng do nóng trộn với các loại cao sinh cơ khác để bôi, nấc nghẹn.
LIỀU DÙNG:
Uống trong từ 1,5 – 3,5g, dùng ngoài tùy nhu cầu. Có thể dùng trong thuốc hoàn hoặc tễ, thuốc sắc xong bỏ vào.
KIÊNG KỴ:
Không nên uống lâu ngày, không có thực chứng hữu dư cấm dùng.
THAM KHẢO
- Bằng sa tính thông đờm nhiệt ở thượng tiêu, nó sinh được tân dịch, trị được chứng hôi miệng, đánh tan màng mộng ở trong mắt lại trị được chứng ăn vào mửa ra, ói nghẹn tích khối, làm tiêu tan được những khí trệ kết đọng, những chỗ thịt da sưng đau, nghẹn nấc hóc xương, ác sang. Đó là vị thuốc trị các chứng bệnh chứng ở răng, môi, miệng, lưỡi. Bằng sa sắc trắng mà nhẹ cho nên trừ được nhiệt ở vùng hung cách, thượng tiêu (Bản Thảo Cương Mục).
- Bằng sa có chất hơi cay, khí hơi ấm mà không độc, nhưng xét đến chỗ ứng dụng của nó thì thấy có tính hơi mặn, khí cũng hơi ấm mà thôi, sắc trắng mà chất cũng nhẹ, nó có đặc tính hay giải được các chứng đờm nhiệt ở bộ phận trong phế là thương tiêu, ở hung cách. Vì tính nó cay cho nên hay tản tán, tính đắng nên hay tiết thông, vì tính mặn nên hay làm mềm nhũn, vì thế nó mới làm chủ được mọi thứ thuốc tiêu đờm trị được ho, hầu tý, phá được chứng hà kết khối (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Ngậm Bằng sa cho chẩy theo nước bọt xuống cổ trị sưng nghẹn cuống họng, đau cổ họng hay trị được các chứng đờm nhiệt bí tắc ở hung cách, nhất là khi gặp các trường hợp đã biết là sẽ có những chứng đờm nhiệt phát ra mà dùng nó để trị thì phòng ngừa được các chứng trên (Bản Thảo Diễn Nghĩa).
- Bằng sa đặc hiệu trị đàm nhiệt ở thượng tiêu, nhất là chứng đau trong cổ. Nó có vị mặn làm mềm các chứng cứng nên trị lao ăn vào mửa ra, nấc nghẹn thường hay dùng (Bách Hợp).
- Bằng sa cay ngọt hơi mặn khí ấm sắc trắng chất nhẹ công hiệu của nó chuyên trị bệnh ở thượng tiêu, nhất là những chứng đờm nhiệt nên nói rằng: Tính chất của nó chuyên trị được chứng đờm nhiệt trong hung cách. Tóm lại ở thượng tiêu thì không có chứng nào bỏ được Bằng sa, không dùng đến nó mà hay được. Vì chứng nó có thể tiêu được đồ rắn chắc như Kim khí, huống hồ lại không tiêu được đờm tích hay mỡ ngăn trở làm những khối tích tụ hay sao? Nhưng khi dùng nó phải xem xét cái thật mà dùng để điều trị cho hiệu nghiệm, không nên khinh suất xem thường vàng thau lẫn lộn lá một việc làm đáng tiếc vậy. Nên phải xem thứ nào sản xuất ở Tây phiên thì trắng như phèn chua, sáng sủa, còn thứ nào của Nam phiên hơi vàng như nước quả đào, khi dùng nó phải dùng nước sắc Cam thảo cho chảy ra rồi dùng lửa nhỏ sao khô để dùng (Bản Thảo Cầu Chân).
- Bằng sa mặt có nhiều cành 4–5 cạnh hoặc 8 cạnh mặt như hạt châu. Hoặc 3–4 góc giống như hạt châu màu trắng. Khi ban đêm lúc trời tối nếu đem xát vào nhau nhiều lần thì nó sẽ xẹt ra tia lửa sáng, nếu đem lửa mang đốt hết chất nước ngâm ở trong đó thì sẽ biến ra khô trắng. Vị nó lúc đầu hơi ngọn rồi lơ lớ mặn sau có vị chát mà cay đắng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Bằng sa dùng sống có tác dụng chống lở thối nhiều hơn, loại đã luyện rồi có tác dụng thêm là thâu thấp, là thuốc dược hay trị bệnh trong bệnh yết hầu (Tân Biên Trung Y Học Khái Luận).


