TÊN KHÁC
Biển trúc (Danh Y Biệt Lục), Biển biện, Biển nam (Ngô Phổ Bản Thảo), Phấn tiết thảo, Đạo sinh thảo (Bản Thảo Cương Mục), Biển trúc, Vương sô, Bách tiết thảo, Trư nha thảo, Thiết miên thảo (Hòa Hán Dược Khảo), Tàn trúc thảo (Dược Vật Sinh Sản Biện), Cây càng tôm, Rau đắng, Xương cá (Việt Nam).
MÔ TẢ:
Cây thảo một năm cao 10–30cm thân và cành mọc tỏa tròn, gần sát đất, thân màu xanh lá cây hoặc tím đỏ. Lá đơn rất nhỏ, mép nguyên, hình mũi mác thuôn, mọc so le, cuốn rất ngắn, có bẹ chìa. Hoa nhỏ màu hồng nhạt tụ họp 3–4 cái ở nách lá. Quả bế 3 cạnh chứa 1 hạt đen.
PHÂN BIỆT:
Có nơi dùng cây Thài lái tía (Zebrina pendula Schnizl) thuộc họ Commelinaceae để thay thế cho vị Biển súc.
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị đắng, tính bình, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Vị đắng, tính bình (Đông Dược Học Thiết Yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh Bàng quang (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Vào kinh Vị, Bàng quang (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐỊA LÝ:
Mọc hoang ở nơi ruộng ẩm, lòng suối cạn ở Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Bắc, Hà nội.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hái toàn cây, kể cả rễ vào mùa xuân và hạ, phơi hay sấy khô.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Toàn cây.
BÀO CHẾ
- Dùng sống hoặc sao vàng cho thơm (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Bỏ rễ, rửa sạch đất cát, thái khúc dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị lở loét, nổi vảy ngứa: Biển súc giã nát, đắp (Trửu Hậu Phương).
- Trị tiểu rát, tiểu buốt do nhiệt: Biển súc sắc uống nhiều lần (Xinh Xinh Biện Phương).
- Trị vàng da do nhiệt: Biển súc giã nát, lấy nước 1 tô, ngày 1 lần (Dược Tính Luận Phương).
- Trị sưng đau: Biển súc giã nát 1 tô uống, uống khi nào bớt thì thôi, có thể lấy nước trộn miến làm bánh, nấu ăn ngày 3 lần (Dược Tính Luận ).
- Trị hoắc loạn: Biển súc, Đậu, Ngũ vị nấu canh ăn (Thực Y Tâm Kính).
- Trị do uống nhiều đơn thạch làm hỏa độc xông bốc lên sưng đau mắt: dùng một nắm rễ Biển súc rửa sạch, giã nát uống (Thực Liệu Bản Thảo).
- Trị giun cắn ở trẻ nhỏ làm sùi bọt, mặt xanh: Biển súc 10 cân, giã nát ép lấy nước sắc còn 1 chén, bỏ bã, sắc keo lại uống, nhịn đói cả đêm trước khi uống vào lúc sáng, thường ngày lấy nước cho ăn với cơm (Thực Liệu Bản Thảo).
- Trị ngứa lở vùng hạ bộ: Biển súc 1 nắm, sắc với 2 chén nước còn 1 chén, uống. Trẻ con dùng phân nửa (Dương Thị Sản Nhũ).
- Trị tiểu buốt, tiểu khó, nước tiểu nóng rát: Biển súc 15g sắc uống liên tục, hoặc kèm theo sa tiền thảo, Thạch vĩ mỗi thứ 9g, Cam thảo tiêm 1,15g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị sạn, sỏi đường tiểu: Biển súc 12g, Hải kim sa 30g, Xa tiền thảo 30g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị viêm ruột cấp tính do thấp nhiệt, lỵ: Biển súc 12g, Xa tiền tử 9g, Tiên hạc thảo 15g, sắc uống. Trị lỵ: Bạch lỵ, Trộn thêm đường cát, hồng lỵ, trộn thêm đường đen sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị vàng da do thấp nhiệt Biển súc tươi sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị lở nước ngoài da, trị thấp chẩn ở da, ngứa âm đạo trùng roi ở âm đạo, sán móc, ngứa: Biển súc tươi (nửa cân), thêm nước 3 cân sắc rửa.
- Trị sán móc: Biển súc 30g sắc uống, mỗi ngày 1 thang, liên tục 3 ngày.
- Trị đái ra chất nhũ chấp đục: Biển súc (tươi) 1–60g trộn 1 cái trứng gà, gừng sống vừa đủ dùng, sắc uống liên tục 20 thang Hoặc dùng biển súc 30g, dấm lâu năm 3 lượng trộn 1 chén nước sắc còn 1 chén chia làm 2 lần uống. Trị giun chui ống mật.
- Trị tiểu đục, tiểu ra dưỡng chấp: Biển súc cả rễ, hợp với Sinh khương, Trứng gà, nấu ăn (Thực Dụng Trung Y Học).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Lợi tiểu, thanh thấp nhiệt, đồng thới có tác dụng sát trùng. Trị tiểu buốt, sỏi thận, sỏi bàng quang, vàng da, kiết lỵ, đau bụng do giun đũa, lở loét ngoài da (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Lợi tiểu, sát trùng. Trị hoàng đản, nhiệt lâm, mụn nhọt ở âm đạo, ghẻ lở chảy nước (Đông Dược Học Thiết Yếu).
LIỀU DÙNG:
Dùng từ 9–30g. Dùng tươi từ 30–60g, bên ngoài dùng tùy theo nhu cầu.
KIÊNG KỴ:
Không có thấp nhiệt, tiểu không thông vì do hư, không có giun sán, tiểu nhiều do suy nhược đều không dùng được.
THAM KHẢO
- Nước cốt của Biển súc trị được giun ở trẻ con rất hay (Dược Tính Bản Thảo).
- Biển súc có thể trị được hoắc loạn, vàng da, thông lợi tiểu tiện, giun sán (Bản Thảo Cương Mục).
- Biển súc vị đắng, khí bình, công hiệu chuyên lợi tiểu, thanh nhiệt trừ thấp và sát được trùng nên trị được chứng sài điện của trẻ con, ngứa ngáy trong âm hộ, trĩ, các loại trùng. Biển súc là thứ đặc hiệu, bởi đắng nên chứng nóng phải lui, vì đắng nên giun sán phải nằm im, nhưng đây chỉ nói về trị ngọn nhưng không thể là thuốc trị thường xuyên được (Bản Thảo Cầu Chân).
- Biển súc vị cay nên nó ráo được thấp vị, vị đắng nên sát được trùng theo 'Bản Kinh' và Biệt lục đều cho nó là thuốc chuyên trừ thấp nhiệt, những chứng lở loét ăn phần hạ bộ, các loại trùng đều co thấp nhiệt mà ra cả, về sau người ta dùng nó cho vào thuốc tiêu hóa, tiết phát thấp khí rồi mới nhờ nó mà trị được những chứng đái són, đái lắt nhắt (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
- Dùng Biển súc để trị chứng hoàng đản, hoắc loạn là vì lợi dụng vào chỗ nó có tác dụng Thanh nhiệt lợi thấp. Tuy nhiên khi có thấp nhiệt thì nên dùng, còn những bệnh do khí hư thì không nên dùng thực ra vì nó chỉ chuyên đặc hiệu với những thực bệnh với những người khỏe mạnh. Những bệnh thấp nhiệt sinh ra lở loét, ngứa, đau rát, nóng bừng hay tiếu rát, tiểu không thông dĩ nhiên phải dùng đến nó (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Mã tiên thảo, Cù mạch và Biển súc đều trị tiểu tiện đau, buốt. Nhưng Cù mạch và Biển súc thiên về trị độc kết tụ thuộc bệnh lâm, Mã tiên thảo thiên về trị độc kết tụ thuộc giang mai (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Biển súc có thể thanh nhiệt, hóa thấp, trị tiểu ngắn, nước tiểu đỏ, tiểu không thông, thấp nhiệt ngăn trở đường tiểu (Thực Dụng Trung Y Học).


