TÊN KHÁC
Thảo long châu (Bản Thảo Cương Mục), Bồ đào, Tứ tử anh đào, Mã nhũ bồ đào, Thủy linh bồ đào, Tử bồ đào (Hòa Hán Bản Thảo), Lục bồ đào, Bồ đào can, Bồ đào thật, Tử bố đào, Bồ đào chấp (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển), Sơn hồ lô (Trung Quốc Thụ Mộc Phân Loại Học), Cây nho (Việt Nam).
MÔ TẢ
Cây leo bằng cành có tua cuốn, vỏ lúc đầu màu lục màu tro sau hóa bần, bong ra thành dải mỏng. Lá mọc cách, thành 2 dẫy có 2 lá kèm, sớm rụng, lá chân vịt, phiến lá chia 5–7 thùy khía răng không đều ở mép, cuống lá dài. Tua cuốn đối diện với lá, rẽ đôi 1–2 lần, ở chỗ rẽ có 1 lá giảm. Hoa mọc thành chùm xim 2 ngả, hoa đều, có bao hoa và bộ nhị dưới nhụy, cụm hoa tạp tính khác gốc, một số gốc mang hoa đực và hoa lưỡng tính một số gốc mang hoa cái và hoa lưỡng tính. Đài rất nhỏ hình chén, phía trên chia 5 răng. Tràng 5 rời ở gốc, liền ở ngọn. Nhị 5 xếp trước cánh hoa, bao phấn hai ô ở hoa đực và hoa lưỡng tính, không sinh sản ở hoa cái. Đĩa hình nệm. Nhụy gồm hai lá noãn giống nhau, bầu thượng 2 ô, mỗi ô hai noãn bên, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy hơi phồng. Quả mọng hình trứng, chứ 4 hạt hình quả lê, có vỏ rắn như xương. Cây này nhập nội, thường trồng làm cảnh, giàn bóng mát. Quả trồng ở Việt Nam ăn được nhưng hơi chua và ngứa không ngọt bằng ở Âu châu.
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).
- Vị ngọt, sáp, tính bình, không độc (Bản Thảo Cương Mục).
- Vị ngọt, sáp. Tính bình không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
QUY KINH:
- Vào kinh Thận (Bản Thảo Cầu Chân).
- Vào kinh Tỳ, Phế (Bản Thảo Tái Tân).
- Vào kinh Phế, Tỳ, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).
ĐỊA LÝ:
Trồng ở Đà Lạt, Phan Rang và một vài nơi trong nước Việt Nam.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Trái, thân, gốc có rễ, lá.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị đái buốt: Bồ đào giã lấy nước. Ngẫu tiết giã lấy nước, Bạch sa mật, mỗi thứ 5 tô, lần uống 1 chén lúc nóng (Bồ đào tiễn – Thánh Huệ Phương).
- Trị có thai tức chói lên ngực sắc nước Bồ đào uống (Thánh Huệ Phương).
- Giải khát, trừ phiền: Bồ đào sống đâm lấy nước bỏ vào chậu sành trộn chút mật ong uống (Cư Gia Bí Dụng Sự Loại Toàn Tập).
- Trị suy nhũ (áp xe vú): Bồ đào 1 đoạn, đốt cháy, tán bột, uống với rượu nóng (Bồ đào tửu – Thánh Tế Tổng Lục).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Trục thủy, lợi tiểu tiện (Biệt Lục).
- Trừ thủy khí ở ruột, điều trung, trị lâm, thông tiểu tiện (Dược Tính Luận).
- Trị thời khí phát sang chẩn mà không xuất ra, khai tửu ẩm (Bản Thảo Đồ Kinh).
- Lợi gân cốt, trị tê bại, làm thuốc bổ. Trị gân xương tê thấp, ích khí, bồi sức, chịu được giá lạnh, tiêu thức ăn, lợi tiểu, ăn lâu nhẹ người (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Giải độc, tán biểu (Tân Cương Dược Tài).
KIÊNG KỴ:
- Ăn nhiều bị tiêu chảy (Bản Kinh Phùng Nguyên).
- Ăn nhiều sinh ra nội nhiệt (Y Lâm Toản Yếu).
- Có phong nhiệt, thực tà cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
THAM KHẢO
- Cây Bồ đào cho rễ, dây và lá gọi là Bồ đào căn giằng diệp có tính ngọt sáp, bình, không độc, nấu nó thật kỹ uống vào trị được cầm mửa, lợm mửa sau khi bị hoắc loạn, đàn bà có thai có hơi dồn lên vùng chấn thủy uống nó thì an được thai (Thực Liệu Bản Thảo).
- Quả còn cùng để dầm rượu gọi là Bồ đào tửu hay rượu Nho, bằng cách dùng quả nho hoặc lấy nước của cây dây Nho dùng men mà cất thành rượu, nó có vị ngọt, cay nóng có ít độc, trị được các chứng như làm đẹp nhan sắc, ấm lưng, thận, Chống lạnh. Theo Lý Thời Trân thì rượu này có bệnh thuộc nhiệt và bệnh răng, lở loét thì không nên uống (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Những người xứ lạnh ở Âu Châu, phương bắc bẩm thụ khí lạnh uống vào rất tốt, còn những người ở xứ nóng thường không hợp uống vào không chịu hay sinh ra bệnh nóng nảy khó chịu, bứt rứt, hay động đến đàm hỏa, người ta thường cất ra thành rượu rất quý (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Hột nho rửa sạch, xay nát để chiết xuất những hoạt chất tốt trong hột nho làm thuốc chống oxy hóa, chống lão hóa, giúp sống lâu. Chất có hoạt tính sinh học quan trọng nhất trong hột nho thuộc nhóm flavonoid có tên là proccyanidolic oligomer (PCO), dùng trị những rối loạn tĩnh mạch và vi mạch như suy tĩnh mạch, trướng tĩnh mạch, suy thoái vi mạch mắt do tiểu đường, suy hệ mạch não... PCO có tính chống oxy hóa mạnh hơn cả vitamin C, E, chống xơ vữa động mạch, chống kết cụm tiểu cầu, chống đục nhân mắt. Những chất này cũng có trong quả nho, nhất là quả nho đỏ (Thuốc & Sức khỏe 2002: (18) 219).


