TÊN KHÁC
Hương bồ, Cam bố, Tiếu thạch Sanh bồ hoàng, Sao bồ hoàng, Bồ hoàng thái (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Cây cỏ nến, Bồ đào, Hương bồ, Bông nên, Bông liễn (Việt Nam).
MÔ TẢ
Cây thảo cao 1,5 đến 3m. Thân tròn lá hình bàn dài, mọc thành 2 hàng, có bẹ to. Hoa đơn tính cùng gốc, họp thành bông riêng biệt nhưng thường nằm trên một trục chung, bông đực ở trên, bông cái ở dưới, hai bông cách nhau một quãng ngắn. Cả cụm hoa trông như một cây nến màu đỏ. Nhị ở hoa đực bao bởi lông ngắn màu vàng, rất nhiều hạt phấn. Bông cái có cột nhụy dài, có nhiều lông trắng hay hơi hung, bầu có hình chỉ. Quả nhỏ hình thoi, khi chín mở dọc.
DƯỢC LÝ
TÁC DỤNG DƯỢC LÝ:
- Làm Tăng Nhanh Máu Đông: Trong ống nghiệm, nước sắc Bồ hoàng có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu. Cho thỏ uống nước ngâm kiệt hoặc 50% cồn Bồ hoàng đều làm cho thời gian đông máu của thỏ rút ngắn. Chích dưới da dịch chiết Bồ hoàng làm cho tiểu cầu của thỏ tăng, thời gian Prothrombin rút ngắn. Trên thực nghiệm, làm chảy máu động mạch đùi của chó đã gây mê, đắp bột Bồ hoàng tại vết thương, có tác dụng cầm máu. Uống nước Bồ hoàng cũng làm cho thời gian đông máu của thỏ và thời gian chảy máu của chuột rút ngắn. Đốt thuốc thành than có tác dụng mạnh hơn (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Đối Với Hệ Tim Mạch: Thuốc có tác dụng tăng lưu lượng máu của động mạch vành, cải thiện chuyển hóa, có tác dụng giãn mạch, tăng lực co bóp của tim, cải thiện điện tâm đồ, làm giảm lực cản ngoại vi, làm chậm nhịp tim. Cồn chiết xuất Bồ hoàng đối với tim cô lập của cóc, với nồng độ thấp có tác dụng gia tăng sự co bóp tim. \/ới nồng độ cao thì có tác dụng ức chế. Trên mô hình gây nhồi máu cơ tim cấp ở thỏ, thuốc có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn, bảo vệ cơ tim, có thể hạn chế phạm vi nhồi máu cơ tim, chống sự ngưng tập của tiểu cầu (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Phòng Trị Xơ Mỡ Động Mạch: Thuốc có tác dụng hạ Cholesterol máu rõ rệt, ức chế sự hấp thụ cholesterol ngoại lai của niêm mạc ruột, hạ thấp tỷ lệ bám của tiểu cầu, nâng cao lipoprotein mật độ cao. Thuốc làm cho tốc độ lưu thông máu tăng nhanh, lượng máu động mạch vành tăng, chuyển hóa tăng nhờ đó mà thuốc có thể phòng trị chúng xơ mỡ động mạch. Có báo cáo cho rằng những tác dụng trên là do bột phấn Bồ hoàng, còn cao lỏng không có tác dụng trên (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Hạ Áp: Nước sắc, cồn chiết xuất Bồ hoàng đều có tác dụng làm cho huyết áp của mèo, chó, thỏ hạ và nhịp tim chậm. Chích vào ổ bụng chó cũng có tác dụng hạ áp, nhưng liều lượng điều tri thường dùng thì không có tác dụng hạ áp (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Đối Với Tử Cung: Nước sắc Bồ hoàng, dịch chiết bằng éte đều có tác đụng hưng phấn đối với tử cung cô lập của chuột Hà Lan, chuột cống và chuột nhắt, liều lượng lớn gây co thắt đối với tử cung chưa có thai mạnh hơn với tử cung có thai. Bồ hoàng co thể làm cho tử cung sau sanh trương lực tăng và co bóp tốt hơn. Dịch chích Bồ hoàng có tác dụng dục sản đối với chuột Hà Lan và chuột bạch nhỏ (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Đối Với Ruột: Dịch chiết Bồ hoàng có tác dụng tăng nhu đông ruột cô lập nhưng bị atropin phá hủy (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Kháng Viêm: Trên thực nghiệm chích nước sắc Bồ hoang vào ổ bụng và đắp thuốc vào chân chuột trắng được gây bỏng và gây viêm khớp bằng protein huyết thanh, chứng minh thuốc có tác dụng tiêu phù, do thuốc có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn cục bộ và làm bớt tính thẩm thấu của mao mạch (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Miễn Dịch: Thuốc có tác dụng ức chế chức năng của tế bào miễn dịch cũng như thể dịch miễn dịch. Thuốc làm teo rõ các cơ quan miễn dịch của chuột lớn, nhưng không ảnh hướng đến tổng số bạch cầu ngoại vi và khả năng thực bào của tế bào bạch cầu đa nhân trung tính. Với liều trung bình, thuốc có tác dụng ức chế khả năng thực bào của đại cự bào, liều nhỏ không ảnh hưởng nhưng liều cao lại có khả năng tăng cường rõ rệt. Thuốc có xu hướng làm tăng hàm lượng CAMP của lách và tuyến ức chuột (Trung Dược Học).
- Tác Dụng Chống Lao: Nước sắc Bồ hoàng nồng độ cao (1:100) có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của trực khuẩn lao trong ống nghiệm. Thuốc có tác dụng điều trị chuột Hà Lan bị gây lao thực nghiệm (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Những tác dụng khác của Bồ hoàng như cồn chiết xuất Bồ hoàng chích tĩnh mạch có tác dụng lợi mật đối với chó gây mê. Trên lâm sàng còn quan sát thấy thuốc có tác dụng lợi tiểu và giảm cơn hen (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC:
Trên thực nghiệm xác định độc tính cấp của Bồ hoàng LD50 là 35,57g/kg cân nặng. Trên chuột Hà Lan, thuốc có gây dị ứng, rút ngắn thời gian máu đông, làm giảm tổng số hồng, bạch cầu, có gây dung huyết đối với thỏ nhà (Trung Dược Học).
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).
- Vị hơi ngọt, tính hơi hàn (Bản Thảo Chính – Cảnh Nhạc Toàn Thư).
- Để sống tính mát, sao lên vị sáp (Bản Thảo Hội Ngôn).
- Vị ngọt, tính bình (Trung Dược Học).
QUY KINH:
- Vào kinh thủ túc Quyết âm [Tâm bào, Can], phần huyết (Bản Thảo Cương Mục).
- Vào kinh thủ Thiếu âm [Tâm], thủ Thái dương, thủ Thái âm, túc Dương minh, túc
- Quyết âm (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Vào kinh Tỳ (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).
- Vào kinh Can, Tỳ, Tâm bào lạc (Trung Dược Học).
ĐỊA LÝ:
Cây mọc ở khắp nơi đầm lầy ở Việt Nam, nhưng vị này vẫn phải nhập của Trung Quốc.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Dùng phấn hoa phơi khô của hoa đực. Dùng cả nhị đực và cái là không đúng.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hoạch vào tháng 4 chọn lặng gió, cắt bông hoa phơi khô, thứ vàng là tốt (nếu trời râm phải trải ra, tránh ủ nóng làm biến chất), dùng cối nghiền sạch lông và tạp chất, phơi lấy hột nhỏ phơi khô để dùng.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Chất bột nhẹ màu vàng tươi, quan sát dưới kính hiển vi hạt hoa gần hình cầu hoặc hình bầu dục, phấn hoa trong bột hình sợi dài khoảng 1,5mm, màu vàng đất hoặc màu nâu nhạt. Loại cỏ màu vàng óng ánh, khô hạt nhỏ nhẹ xốp không lẫn tạp chất là thứ tốt, thứ phơi nâu là kém.
TÊN GỌI:
Tên cây cỏ Nến vì hoa như cây nến.
BÀO CHẾ:
Bọc 3 lần giấy nước cho sắc vàng, để nửa ngày sấy khô (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải). Dùng sống thì không bào chế, dùng chín thì sao qua.
BẢO QUẢN:
Dễ bị hút ẩm sinh mốc, khi đem phơi phải bọc trong giấy mỏng để khỏi bay. Tránh nóng quá sẽ biến chất. Đựng trong lọ kín.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị lở loét vùng sinh dục: Bồ hoàng bôi vào ngày 3–4 lần thì khỏi (Thiên Kim Phương).
- Trị mủ trong lỗ tai hay chảy ra: Bồ hoàng tán bột, rắc vào (Thánh Huệ Phương).
- Trị chảy máu cam ra khắp tai, miệng: Bồ hoàng, A giao, sao chảy, mỗi thứ 15g, mỗi lần uống 6g với nước và 1 chén nước sắc Địa hoàng, uống lúc nóng, nơi chảy máu, bịt lại để cầm máu (Thánh Huệ Phương).
- Trị nôn ra máu (bất luận già hay trẻ): Bồ hoàn tán bột, mỗi lần uống 1,5g với nước Sinh địa, tùy theo lớn nhỏ để phân lượng hoặc bỏ vào một ít tóc rối bằng Bồ hoàng cũng có thể trị được chứng trẻ nhỏ tiểu ra máu (Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị tức do bí tiểu: lấy vài bọc Bồ hoàng để trên thắt lưng (vùng thận) xong chổng đầu xuống hai chân lên trời từ từ thì thông (Trửu Hậu Phương).
- Trị đau nhức các khớp: Bồ hoàng 240g, Chế phụ tử 30g, tán bột, mỗi lần uống 3g với nước, ngày 1 lần (Trửu Hậu Phương).
- Trị ứ huyết do băng ở bên trong: Bồ hoàn tán nhỏ, 60g, mỗi lần uống 1 thìa (6g), khi nào ngưng thì thôi (Trửu Hậu Phương).
- Trị xuất huyết ở ruột: Bồ hoàn tán bột, dùng 1 thìa canh sắc uống ngày 3 lần (Trửu Hậu Phương).
- Trị kinh bế do ứ huyết, sản hậu máu do xuống không dứt, đau vùng bụng dưới, tất cả các loại đau do ứ huyết: Bồ hoàng, Ngũ linh đều 9g. Tán bột, mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần với rượu nóng (Thất tiếu tán – Cục Phương).
- Trị chảy máu cam do phế nhiệt: Bồ hoàng, Thanh đại mỗi thứ 3g uống với nước mới múc dưới dòng sông lên, có thể không dùng Thanh đại mà bỏ tóc rối bằng lượng Bồ hoàng, uống với nước sắc Đại hoàng (Giản Tiện Đơn Phương).
- Trị nôn, khạc ra máu: Bồ hoàn tán bột 60g, uống với rượu hoặc nước lạnh hằng ngày, mỗi lần 9g (Giản Yếu Tế Chúng Phương).
- Trị chảy máu do đâm chém, ngất gần chết: Bồ hoàng 15g, uống với rượu nóng (Thế Y Đắc Hiệu).
- Trị sa trực trường: Bồ hoàng, trộn mỡ heo bôi, ngày 3–5 lần (Tử Mẫu Bí Lục).
- Trị động thai, muốn sinh nhưng chưa đủ tháng: Bồ hoàng 8g, uống với nước giếng (Tập Nhất Phương).
- Trị nhau không ra: Bồ hoàng 6g, uống với nước giếng (Tập Nghiệm Phương).
- Thúc đẻ: Bồ hoàng, Địa long rửa sạch, sấy khô, Trần bì, Quất bì mỗi thứ bằng nhau tán bột để riêng từng thứ, đợi khi nào sắp sinh thì sao 3g với nước mới múc lên dưới sông vào thì sinh mau, rất hiệu nghiệm (Đồ Kinh Bản Thảo).
- Trị sản hậu ra huyết, ốm yếu chờ chết: Bồ hoàng 60g sắc uống (Sản Bảo Phương).
- Trị ứ huyết có cục ở tử cung, bụng dưới: Bồ hoàng 90g, uống với nước cơm (Sản Bảo Phương).
- Trị sản hậu huyết ứ: Bồ hoàng 90g, sắc uống (Mai Sư Phương).
- Trị chấn thương trên cao ngã xuống, ứ huyết do bị đập đánh bên trong gây khó chịu: Bồ hoàn tán bột, uống mỗi lần 9g với rượu nóng (Tắc Thượng Phương).
- Trị xuất huyết ở lỗ tai: Bồ hoàng sao đen, tán bột, rắc vào (Giản tiện phương).
- Trị các loại bệnh thuộc huyết sau khi sinh: Bồ hoàng sao đen, Can khương sao đen, Đậu đen sao, Trạch lan, Đương quy, Xuyên khung, Ngưu tất, Sinh địa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị tiểu ra máu: Bồ hoàng, Xa tiền tử, Ngưu tất, Sinh địa, Mạch môn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị băng huyết, rong kinh: Bồ hoàng A giao, Nhân sâm, Bạch giao, Mạch môn, Xích phục linh sa tiền tử, Đỗ trọng, Xuyên tục đoạn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị sưng lưỡi: Bồ hoàng sống, đặt dưới lưỡi liên tục (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị các loại chấn thương do té ngã, ứ huyết, tích trệ trong bụng, dùng Bồ hoàng (sống) sắc đặc uống với nước tiểu trẻ nhỏ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị đàn bà thống kinh, sau khi đẻ máu dơ không xuống: Bồ hoàng 6g, Gừng lùi cháy 3g, Hắc đậu 15g, sắc uống (Bồ hoàng hắc thần tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị thống kinh do ứ huyết trở trệ: Bồ hoàng 15g, Đơn sâm 30g, Ngũ linh chi 15g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị ho ra máu, đàm có máu, tiêu ra máu, tiểu ra máu, chảy máu cam, tử cung xuất huyết: Bồ hoàng (than) 9g, Rượu và nước mỗi thứ một nửa, sắc uống (Bồ hoàng thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị xuất huyết tử cung do chức năng: Bồ hoàng than, Liên phòng (than), mỗi thứ 15g, sắc uống. Nếu cơ thể suy nhược nặng thêm Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm 24g (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị tiểu ra máu: Bồ hoàng, Đông quỳ tử đều 9g, Sinh địa 15g, sắc uống (Bồ Hoàn Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị vết thương chảy máu: Bồ hoàng than, Cốt phấn, Ô tặc cốt, các vị bằng nhau, tán bột, rắc vào nơi chảy máu, băng lại (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị kinh bế, đau kinh, bụng dưới đau, các chứng đau do huyết: Bồ hoàng, Ngũ linh chi, lượng bằng nhau, tán bột mịn, mỗi lần uống 4–6g với rượu ấm, ngày 2 lần (Thất tiếu tán – Hòa Tễ Cục Phương).
- Trị đau bụng kinh, nước ối không ra hết: Bồ hoàng 10g, Hương phụ 6g, Bào khương thán 3g, Đậu đen 15g, sắc uống (Bồ hoàng hắc thán tán – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị hành kinh đau bụng: Bồ hoàng 15g, Đơn sâm 30g, Ngũ linh chi 15g, sắc nước uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị các chứng ho ra máu, máu cam, tiêu, tiểu có máu, xuất huyết tử cung: Bồ hoàng thán 10g, nước và rượu mỗi thứ một nửa, sắc uống (Bồ hoàng thang – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị xuất huyết tử cung cơ năng: Than Bồ hoàng, than Ngó sen đều 15g, sắc uống. Nếu người bệnh yếu, thêm Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm 25g (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị tiểu ra máu: Bồ hoàng, Đông quí tử đều 10g, Sinh địa 15g. Sắc uống (Bồ hoàng tán – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Phòng trị tử cung sau khi sinh co lại kém, nước ối ra không dứt: Cho 31 phụ nữ sau sinh uống bột Bồ hoàng sống mỗi lần 3g, ngày 3 lần, liên tục 3 ngày. Kết quả: đáy tứ cung xuống trung bình 4,71cm, tổ đối chiếu 3,64cm, tốt hơn tổ dùng Cao ích mẫu, đồng thời nước ối ra hết nhanh (Lôi Vĩnh Trọng – Thượng Hải Trung y dược tạp chí 1963, 9 : 1).
- Trị bệnh mạch vành: Dùng độc vị Bồ hoàng trị 66 ca bệnh động mạch vành, theo dõi 2 tháng, kết quả 89% bớt hết đau thắt ngực, 48% tim đều được cải thiện, 58% huyết áp hạ, 80% cholesterol huyết thanh giảm. 94% triglycerld máu giảm (Hồ Nam y dược tạp chí 1982, 9 (3) : 6).
- Trị chứng lipit huyết cao: Dùng viên bọc đường Bồ hoàng, mỗi ngày uống tương đương 30g thuốc sống, chia làm 3 lần. Trị 200 ca. So sánh kết quả trước sau dùng thuốc cholesterol và triglycerit giảm rất tốt (Viện nghiên cứu Trung y dược Hồ Nam, Tạp chí Trung tây y kết hợp 1985, 5(3).141).
- Trị huyết áp cao: Sở nghiên cứu trung y dược tỉnh Hồ Nam dùng Thư Tâm Phiến (sinh Bồ hoàng, tây Đảng sâm, xuyên Hồng hoa, Khương Hoàng phiến, Nga truật, Giáng hương). Trị 400 ca. Theo dõi kết quả thuốc có tác dụng hạ áp trên dưới 90% (Hồ Nam y dược tạp chí 1977. 4:20).
- Trị chàm: Chúc Hoa Dân dùng bột Bồ hoàng sống bôi vào vùng chàm, trị 30 ca. Tất cả đều khỏi sau 8–15 ngày điều trị, trong đó có 25 ca hết ngứa ngay từ ngày đầu (Tân y dược học tạp chí 1977).
- Trị viêm đại tràng mạn tính không đặc hiệu: Dương Hiểu Huệ dùng nước chiết Bồ hoàng làm thành viên 0,3g, mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, đồng thời dùng 100ml dịch Bồ hoàng 5% thụt lưu đại trường, ngày 1 lần. Kết quả: 17 ca triệu chứng lâm sàng được cải thiện, 2 ca khỏi, 4 ca khỏi cơ bản, 10 ca tốt, 1 ca không khỏi, tỷ lệ kết quả 94–12%, bổ thể C3 tăng lên mức bình thường, globulin miễn dịch giảm, IgG giảm xuống mức bình thường (Trung dược thông báo 1987, 12(8) : 48).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG:
- Lợi tiểu tiện, chỉ huyết, tiêu ứ huyết (Bản Kinh).
- Thông kinh mạch, lợi thủy đạo, lợi huyết. Trị phụ nữ băng huyết không cầm, trị tiểu ra máu (Dược Tính Bản Thảo).
- Lương huyết, hoạt huyết, chỉ tâm phúc thống (Bản Thảo Cương Mục).
- Hoạt huyết, khử ứ, lương huyết, chỉ huyết, đồng thời có tác dụng tiêu xưng ra mủ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
CHỦ TRỊ:
Trị thống kinh do ứ huyết, đau ứ hoặc rong kinh sau khi sinh, ứ đau do té ngã, chấn thương, sưng, làm mủ, họng sưng đau. Xuất huyết bên ngoài do ngoại thương, đắp lên. Nhị cái cũng có công dụng rịt vào nơi chảy máu.
LIỀU DÙNG:
3 – 9g
KIÊNG KỴ:
- Không có ứ huyết: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Âm hư, không bị ứ huyết không được dùng (Trung Dược Học).
CÁCH DÙNG:
Dùng sống có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, tiêu ứ huyết, hành huyết. Sao đen có tác dụng cầm máu, bổ huyết (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
THAM KHẢO
- Bồ hoàng cũng có công dụng chỉ huyết như Địa du, nhưng khác nhau Bồ hoàng tiêu được ứ huyết nhất là trị được các chứng đau bụng, nhưng Bồ hoàng chỉ trị về bệnh thực còn bệnh hư không dùng (Bách Hợp).
- Bồ hoàng phá huyết vì vậy trị được những chứng hòn cục trong bụng, ngũ lao thất thương, huyết tích ứ, đau trước ngực làm nôn ra máu, chảy máu cam thì phải dùng Bồ hoàng làm thuốc chính để lương huyết, hành huyết (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).


